Nguyễn Ngọc Sớm, sinh năm 1924, quê quán: Cao Lãnh-Đồng Tháp, KS Địa chất, nguyên: Vụ Trưởng vụ Kỹ thuật Tổng cục Địa chất, Đoàn Trưởng Đoàn 36B, Giám đốc Công ty Dầu khí II, Phó Tổng giám đốc XNLD “Vietsovpetro”, Phó chủ tịch Đặc khu Vũng Tàu - Côn đảo. Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba, Huy chương 50 năm biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Với ông Nguyễn Ngọc Sớm, không phải là mùa xuân Nhâm Ngọ hay xuân Quý Mùi, đối với ông, đó là mùa xuân 1975. Trong niềm vui chung, cả nước ra quân vào mùa xuân tổng tiến công và nổi dậy giành toàn thắng, cùng một số anh em làm địa chất, ông Nguyễn Ngọc Sớm được giao nhiệm vụ chuẩn bị về Nam. Ông rất bồn chồn, mong ngày trở về xây dưng lại quê hương “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, như lời Bác Hồ trước lúc đi xa.

Ngay sau ngày đại thắng năm 1975, đoàn công tác dầu khí được thành lập có nhiệm vụ vào tiếp nhận bàn giao tài liệu và cơ sở vật chất về dầu khí của Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản miền Nam. Đoàn gồm có các ông Nguyễn Văn Diệp - Tổng cục trưởng Tổng cục địa chất (TCĐC), Lê Văn Đức - Tổng cục phó (TCĐC), Trần Đức Lương - Cục phó Cục bản đồ và Ông - Nguyễn Ngọc Sớm - Đoàn trưởng Đoàn địa chất 36B, cùng các thành viên Lê Quang Trung, Xuân An, Nguyễn Giao… Đoàn gồm 11 người, được chia thành hai nhóm:

  • Nhóm thứ nhất do Ông Trần Ngọc Toản dẫn đầu, đi bằng máy bay từ Gia Lâm vào Tân Sơn Nhất.
  • Nhóm thứ hai do Ông Nguyễn Ngọc Sớm dẫn đầu, đi xe ô tô từ Hà Nội vào Sài Gòn.

* -Tác giả ghi theo lời kể của ông Nguyễn Ngọc Sớm.

Cùng tham gia công tác tiếp quản và chuẩn bị thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam còn có các ông Hồ Đắc Hoài – cán bộ của Tổng cục Địa chất, Ngô Thường San – cán bộ của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (sau được bố trí về ngành dầu khí), Nguyễn Văn Biên, Trương Thiên và một số cán bộ khác. Ông Lê Văn Cự là Vụ trưởng Địa chất thuộc (TCĐC) và ông Nguyễn Văn Biên là Phó Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo công tác chuẩn bị thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam.

Thực hiện Nghị quyết số 224 – NQTW ngày 9-8-1975 của Bộ Chính trị về việc triển khai thăm dò dầu khí trong cả nước và Tổng cục Dầu khí Việt Nam, ngày 3-9-1975, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 170-CP thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam, với nhiệm vụ thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí, ông Nguyễn Văn Biên là Tổng cục trưởng, Tổng cục phó là ông Lê Văn Cự và ông Quốc Tuyển (đại tá quân đội chuyển ngành). Liên đoàn 36 địa chất, Đoàn Địa vật lí 36F thuộc Tổng cục Địa chất, Đoàn nghiên cứu dầu khí 36B và một số cán bộ ở Tổng cục Hóa chất được chuyển giao cho Tổng cục Dầu khí.

Tháng 10-1975, Công ty dầu khí Nam Việt Nam được thành lập, ông Lê Văn Cự, Phó Tổng cục trưởng được chỉ định là Giám đốc. Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Biên đá ký quyết định số 01-TC-DK, ngày 23-10-1975, cử ông Nguyễn Ngọc Sớm làm Phó giám đốc. Ông Trương Thiên cũng được cử làm Phó giám đốc. Công ty dầu khí Nam Việt Nam có ba đơn vị trực thuộc là Đoàn dầu khí 1 (Lê Quang Trung là đoàn trưởng) đóng ở Vũng Tàu, Đoàn dầu khí 2 (Trương Minh là đoàn trưởng) đóng ở Cần Thơ, Trường công nhân kĩ thuật Bà Rịa (ông Vinh là Hiệu trưởng.)

Đoàn dầu khí 2 sau được tách ra làm nhiệm vụ thăm dò dầu khí trên đất liền, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bộ phận còn lại của Công ty dầu khí Nam Việt Nam được tổ chức lại thành Công ty dầu khí 2 làm nhiệm vụ quản lý các hoạt động tìm kiếm, thăm dò vùng thềm lục địa. Ông Nguyễn Ngọc Sớm được chỉ định Quyền Giám đốc (quyết định số 174-QĐ-TC ngày 28-5-1977), các ông Trương Thiên, Hồ Tế, Trần Văn Thanh, Nguyễn Đông Hải là Phó Giám đốc.

Tổng cục Dầu khí đã đàm phán và kí hợp đồng với các công ty Agip (Italia), Deminex (Tây Đức), Bowvaley (Canada). Vũng Tàu được chọn làm căn cứ dịch vụ dầu khí. Công ty dầu khí Nam Việt Nam chuyển về Vũng Tàu, đặt trụ sở tại số 4 đường Hoàng Diệu, khu Lam Sơn, thị xã Vũng Tàu. Khi đàm phán với các công ty nước tư bản, một trong những yêu cầu mà các đối tác đưa ra là phải sử dụng toàn bộ dịch vụ từ Singapore.

Ông Sớm được cử đi Singapore khảo sát, nghiên cứu phương án xây dựng cầu cảng dịch vụ cho tàu 10000 tấn vào Vũng Tàu. Một công ty dịch vụ dầu khí của Pháp đã đòi 25.000.000 đôla cho cầu cảng và một số cơ sở dịch vụ trên bờ. Đó là số ngoại tệ quá lớn mà ta chưa có khả năng đầu tư. Ông báo cáo với ông Đinh Đức Thiện, Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí, xin được cho tự làm. Nhiều cán bộ tham mưu không đồng ý, với lý do ông chưa đủ trình độ, không có khả năng chỉ đạo thi công trong một thời gian ngắn. Hải Phòng làm cảng Chùa Vẽ cho tàu 10.000 tấn phải mất 5 năm.

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, ông Thiện vẫn quyết định cho ông làm. Quan hệ quốc tế khi ấy có nhiều vấn đề phức tạp. Liên Xô chưa muốn làm ăn với ta, còn các công ty tư bản thì đặt nhiều điều kiện mà ta khó đáp ứng được.

Ông Đinh Đức Thiện là người quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Với cương vị là Bộ trưởng phụ trách dầu khí, ông Thiện đề xuất phương án Chính phủ đầu tư để ta tự lực làm cảng và sớm xây sựng một đội ngũ cán bộ ngành dầu khí Việt Nam. Ông Thiện còn chỉ thị cho Công ty dầu khí Nam Việt Nam xây dựng phương án khai thác tại khu mỏ Bạch Hổ, nơi công ty Mobil đã phát hiện có dầu từ năm 1973 để ta tự làm.

Theo chỉ đạo của ông Thiện, ông Nguyễn Sâm, Vụ trưởng xây dựng cơ bản của Tổng cục cùng kỹ sư Nguyễn Hậu đã vào giúp ông Sớm khảo sát, lập phương án xây dựng cảng dịch vụ dầu khí với ba giai đoạn; giai đoạn 1: xây dựng cầu cảng, giai đoạn 2: mở rộng căn cứ dịch vụ phía hạ lưu, giai đoạn 3: mở rộng cảng hạ lưu về phía Bến Đình với tổng kinh phí 75.000.000 đồng Việt Nam, một con số quá khiêm tốn so với 25.000.000 đôla. Thời gian thi công hạn định trong 100 ngày.

Không ít người đã cho rằng đây là một quyết định phiêu lưu, song ông Thiện tin ông Sớm và bằng uy tín của mình, trình Thủ tướng phê duyệt, cấp kinh phí giai đoạn 1 là 25 triệu đồng Việt Nam. Thủ tướng Đỗ Mười đã đặc cách ký quyết định cho phép công trình vừa thiết kế, vừa thi công. Cầu cảng dài 150m cho tàu 10.000 tấn mà yêu cầu rất gấp, phải được xây dựng chỉ trong 100 ngày. Ông Đinh Đức Thiện ký cho ông một loại giấy giới thiệu để huy động sự hỗ trợ của các ngành các cấp, các địa phương phục vụ cho nhiệm vụ đặc biệt này.

Ông đến Bộ quốc phòng, được Thứ trưởng – Trung Tướng Vũ Xuân Chiêm ủng hộ, chỉ thị điều ngay Binh đoàn 318 vào phục vụ thi công. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ cũng sẵn sàng huy động các đơn vị ngành giao thông vận tải tham gia. Ông Lâm Chi, Giám đốc Liên hiệp giao thông 6 (đơn vị thi công) đã hứa với ông là sẽ đảm bảo kĩ thuật và thực hiện đúng thời hạn 100 ngày. Ông tin Lâm Chi, người bạn tù ở chung với ông tại Côn Đảo. Hồi ấy Lâm Chi lấy tên là Nguyễn Trí Tuệ, Chủ tịch Ban chấp hành khu Lò Vôi, còn ông Sớm là ủy viên Ban chấp hành Lâm thời Liên đoàn tù nhân Côn Đảo. Nguyễn Trí Tuệ gan lắm, cuộc đấu tranh nào cũng đi đầu, việc gì đã có chủ trương cũng làm tới nơi.

Mọi việc sắp đặt vừa xong thì có quyết định gửi ông đi khảo sát, học tập ở Na-Uy 3 tháng. Đi học tập, ra nước ngoài mà lòng dạ cứ rối bời, không lúc nào ông không nghĩ về cầu cảng. Với thời hạn 100 ngày, liệu anh em có làm xong không? Không đúng thời hạn là phá sản hợp đồng, các công ty tư bản sẽ sử dụng dịch vụ từ Singapore, ngoại tệ sẽ đổ vào túi họ. Nếu thất bại ngay trong quyết định đầu tiên này thì bao giờ chúng ta mới có đủ bản lĩnh để phát triển ngành dầu khí bằng năng lực của chính mình?

Nghiên cứu ở Na-Uy chưa đầy 2 tháng, ông xin về trước thời hạn Công trình đang gặp nhiều khó khăn. Thiếu tài liệu, bản đồ về luồng lạch, hải lưu, ông ra Viện Hải dương học Nha Trang xin. Thiếu dầm thép và sàlan để xây dựng cầu cảng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Vũ Xuân Chiêm giới thiệu ông ra Quân khu V đưa về. Cũng nhờ Thứ trưởng Vũ Xuân Chiêm quan tâm chỉ đạo mà vụ tranh chấp với đơn vị hải quân đóng tại cảng thượng lưu đã được giải quyết êm thấm.

Ông phát động anh em làm thêm giờ, làm cả ba ca, tổ chức nấu ăn phục vụ anh em tại công trường miễn phí, làm ca đêm được bồi dưỡng thêm cháo vịt. Lương thực, thực phẩm lúc ấy rất khó khăn. Việc tổ chức hậu cần phục vụ tại công trường đã động viên tinh thần và bồi dưỡng sức khỏe cho anh em rất nhiều. Tất cả đều chi trong khoản 25 triệu đồng Việt Nam mà Chính phủ cấp cho giai đoạn 1. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng chi như vậy là sai nguyên tắc. Ông nghĩ, nguyên tắc cao nhất làm làm lợi cho đất nước, không được tư lợi cho riêng mình, đảm bảo đúng chất lượng và tiến độ công trình, trong mức dự toán kinh phí cho phép.

Giữa tháng 8, công việc đang tiến triển khá thuận lợi thì bất ngờ, có lệnh của Tổng cục Dầu khí yêu cầu đình chỉ thi công. Ông bàng hoàng, không thể tin được nữa. Ông điện ra Vụ hỏi thì nhận được câu trả lời: “Tập thể lãnh đạo Tổng cục Dầu khí lệnh cho đồng chí Nguyễn Ngọc Sớm đình chỉ thi công cầu cảng, chờ Tổng cục vào giải quyết.”

Ông điếng người như bị dội một gáo nước lạnh giữa mùa đông băng giá. Đảng ủy công ty họp nhất trí với quyết định đình chỉ thi công. Ông hiểu rằng ngoài những quan điểm khác nhau trong thi công thì một vấn đề quan trọng là vấn đề làm dầu khí với các công ty tư bản vẫn chưa thông trong tư tưởng.

Còn một chút hy vọng cuối cùng là chính Thủ tướng Đỗ Mười đã ký quyết định giao cho ông làm Trưởng ban quản lý công trình, chỉ đạo tổ chức thi công chứ không phải là Tổng cục. Vì vậy, muốn đình chỉ thi công công trình thì phải có lệnh của Thủ tướng, chứ không phải lệnh của Tổng cục. Ông quyết định tiếp tục thi công và đề nghị Đảng ủy công ty, nếu tán thành việc đình chỉ thi công công trình cầu cảng thì phải làm văn bản gửi về Tổng cục, còn việc xây dựng cầu cảng là do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Bản thân Ông được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định bổ nhiệm làm Trưởng ban quản lý công trình, ông chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về công trình này. Không ai có thể đình chỉ thi công ngoài Thủ tướng Chính phủ.

Ông triệu tập họp cơ quan. Với tư cách Thủ trưởng cơ quan, ông ra lệnh tiếp tục thi công. Ai không đồng tình, ông cho nghỉ làm, vẫn được trả lương bình thường, nhưng nếu ai đi làm mà cản trở công việc, ông sẽ không trả lương, buộc thôi việc.

Không khí buổi họp rất căng thẳng. Rất nhiều ánh mắt không đồng tình. Ông nói với các đồng chí Đảng ủy viên Công ty trước khi kết thúc cuộc họp: “Ông hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và trước Tổng cục Dầu khí. Nếu được, chúng ta được cả cầu cảng và sự phát triển của ngành dầu khí, còn nếu mất, chỉ mất có mình Ông, chỉ mình Ông ngồi tù.”

Khi chỉ còn lại một mình, ông đã ứa nước mắt, không phải vì sợ ngồi tù. Ông đã từng bị giặc kết án tử hình, rồi giảm xuống chung thân, ngồi tù 9 năm cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông viết thư và gửi cả băng ghi âm cho ông Đinh Đức Thiện, xác định quyết tâm làm, đảm bảo chất lượng, đúng thời gian mà Thủ tướng Chính phủ đã giao. Dẫu có phải ở tù ông cũng làm, lỡ phải ở tù thì nhờ ông Đinh Đức Thiện nuôi giúp vợ con thay Ông. Ông Trịnh Đình Hưng đã chuyển thư và băng ghi âm đến tận tay ông Thiện.

Ông Thiện bay vào ngay, cả thủ tướng Đỗ Mười, Phó thủ tướng Phan Trọng Tuệ. Không có lệnh đình chỉ nào cả. Đúng 100 ngày, cầu cảng khánh thành, ngày 31-9-1977. Ông cho mổ bò khao quân và đãi quan khách tại khách sạn Hòa Bình. Ông Đinh Đức Thiện vui mừng, vỗ vai thân mật bảo ông: “Tưởng chú mày gan lắm mà còn sợ ngồi tù?”

Cảng dịch vụ hoàn thành, các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí được ký kết. Năm 1981, Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsovpetro được thành lập, cảng trở thành căn cứ dịch vụ quan trọng, nơi tập kết toàn bộ thiết bị vật tư để dựng lên những giàn khoan ngoài biển, nơi sẽ khoan những giếng dầu. Chiếc cầu cảng mà Ông làm lúc đó chỉ dự tính sử dụng trong 5 năm, nay đã hơn 20 năm, được các chuyên gia Liên Xô đánh giá chất lượng tốt.

Cảng dịch vụ dầu khí chính là nơi khởi đầu cho những giàn khoan, là mùa xuân của những giếng dầu trên thành phố biển.

Khi chân đế giàn khoan đầu tiên hạ thủy, ông đã đứng trên cầu cảng, say sưa ngắm nhìn theo mãi, tưởng như cánh én đang mang mùa xuân tới cho những giếng dầu.

Những giây phút ấy đã mang lại mùa xuân thứ 2 cho đời Ông - mùa xuân dâng hiến cho đời.

(Nguyễn Đình Thống lược ghi – theo lời Ông Nguyễn Ngọc Sớm.)