Chuyện Kể Một Thời Làm Dầu Khí Ở Vũng Tàu
Ngày 4 tháng 4 năm 1976, tôi đang công tác tại đoàn dầu khí chuyên đề 36B (tiền thân của Viện dầu khí Việt Nam ngày nay), thì nhận được giấy gọi của Vụ tổ chức cán bộ Tổng cục dầu khí, đến số nhà 80 Nguyễn Du Hà Nội để nhận quyết định của Tổng Cục do anh Nguyễn Văn Biên - Tổng cục trưởng ký điều động tôi vào miền Nam công tác. Tại số nhà 80 Nguyễn Du, Hà Nội, tôi gặp anh Trần Ngôn Hoạt, Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ; sau cái bắt tay với nụ cười nhẹ trên môi anh mời tôi ngồi và thông báo cho tôi biết là có quyết định tôi vào Công ty Dầu khí Nam Việt Nam công tác, với chức danh là Đoàn Trưởng Đoàn Dầu khí 21, có trụ sở tại thị xã Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai, giúp việc cho tôi có các anh Phương Hạc, đang công tác tại đoàn 36C Bắc Giang làm đoàn phó kỹ thuật, anh Nguyễn Như Thị - Trưởng phòng tổ chức đoàn 36B Hưng Yên làm đoàn phó nội chính kiêm Bí thư chi bộ . Anh Hoạt yêu cầu tôi trở về đoàn 36B bàn giao công việc để lên đường vào Nam càng sớm càng tốt. Ở đoàn 36B lúc này, đoàn trưởng Nguyễn Ngọc Sớm đã vào làm phó giám đốc Công ty dầu khí Nam Việt Nam. Anh Lương Trọng Đảng được cử làm đoàn trưởng thay anh Nguyễn Ngọc Sớm. Chỉ trong vòng một ngày tôi bàn giao công việc của phòng kỹ thuật và của chi bộ cho anh Trần Ngọc Toản. Thời ấy mọi việc diễn ra cũng rất đơn giản, tối hôm ấy anh chị em phòng kỹ thuật, đem phiếu mua thực phẩm ra cửa hàng ở thị xã Hưng Yên mua được ít cân cá đem về vừa chiên, vừa nấu dấm mẻ (trong này gọi là canh chua), ít rượu quốc lủi (rượu dân nấu) Chợ gạo thế là có bữa tiệc liên hoan chia tay.
Sáng 14 tháng 4 năm 1976, với chiếc ba lô con cóc mà tôi được phát trong đợt vào Sài Gòn tiếp quản tài liệu dầu khí tháng 5 năm 1975, trong đó có vài bộ quần áo và một ít tiền Cụ Hồ được thanh toán trước khi đi Nam; cộng thêm số tiền vợ tôi dành dụm được cả thảy hơn 40 đồng, vốn liếng vào Nam công tác có thế, vì còn phải để lại cho vợ con tôi đang còn ở ngoài này.
Đợt một vào Nam gồm ban lãnh đạo đoàn 21, các anh Đoàn Thiên Tích, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Chí Thành, Trần Viết Lãm, Chu Kim Chung và một số kỹ sư, kỹ thuật, hành chính, kế hoạch… từ đoàn 36B và 36C cùng đi. Đoàn xuất phát từ ga đường sắt Hà Nội vào đến ga Vinh bằng tàu hỏa, rồi lên xe ca vào Sài Gòn, thời ấy mới kết thúc chiến tranh chống Mỹ nên đường sắt Bắc – Nam còn chưa được khôi phục. Đến Sài Gòn, chúng tôi tạm ở khách sạn Lý Tưởng, chờ lãnh đạo đoàn làm việc với Công ty Dầu Khí Nam Việt Nam, rồi mới xuống Vũng Tàu. Ngày 18 tháng 4 năm 1976 chúng tôi đi xuống thị xã Vũng Tàu. Trước đấy anh Nguyện – một cán bộ của Công ty Dầu Khí Nam Việt Nam đã liên hệ xin cho đoàn 21 hai địa điểm là số 4 Hoàng Hoa Thám và làng Thương Phế Binh Trần Bình Trọng. Nhưng vì còn một số gia đình phế binh của chế độ Sài Gòn cũ chưa chuyển đi được, nên tất cả tập trung tại nhà số 4 Hoàng Hoa Thám. Vài tháng sau khi các gia đình phế binh đi hết, chúng tôi chuyển đoàn bộ về đây, nhà số 4 Hoàng Hoa Thám trở thành phòng thí nghiệm, bộ phận làm phân tích thí nghiệm do anh Nguyễn Văn Hoàng phụ trách làm việc tại nhà này. Có lẽ cuộc sống của những người làm dầu khí ở ngoài Bắc thời còn chiến tranh khá đơn giản nên dù vào ở làng thương phế binh, nhà cửa loàng xoàng, tiện nghi thiếu thốn, nhưng mỗi gia đình có được một căn hộ khép kín thì chẳng thấy ai kêu ca phàn nàn gì, mặc dù lúc đó thành phố biển du lịch nổi tiếng Vũng Tàu không thiếu khách sạn và các khu nhà đẹp, hơn nữa lúc đi vào Nam mỗi gia đình, cá nhân cũng chỉ có vài chiếc ba lô, thùng gỗ đựng quần áo, tư trang nên chẳng có nhu cầu gì lớn lắm, thậm chí nước để dùng cũng chỉ có vài cái giếng khơi để dùng chung, mãi sau này đoàn 21 khoan thêm vài giếng đóng, nước đủ dùng thế là mọi người đều bằng lòng với cuộc sống mới.
Nhiệm vụ của đoàn dầu khí 21 là tiến hành khảo sát địa chất toàn bộ phần đất liền của Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ, các hải đảo từ vĩ tuyến 12 trở vào (từ Thuận Hải đến Kiên Giang) để sơ bộ đánh giá tình hình địa chất rìa bồn trũng Cửu Long (phần đất liền), kết hợp tài liệu địa vật lý đồng bằng sông Cửu Long do đoàn dầu khí 22 làm, cùng với tài liệu thu được trước năm 1975, giúp cho Công ty dầu khí Nam Việt Nam xác định hướng tìm kiếm thăm dò dầu khí trên đất liền và xây dựng kế hoạch hợp tác làm dầu khí trên thềm lục địa Nam Việt Nam. Sau khi tạm thời ổn định chỗ ở ban lãnh đạo đoàn triển khai phương án kế hoạch, lộ trình khảo sát địa chất; anh Đoàn Thiên Tích được giao làm chủ đề tài, còn anh Phương Hạc đoàn phó kỹ thuật phụ trách. Nhóm kỹ thuật đã nhanh chóng lên đường làm nhiệm vụ. Lúc này cả đoàn có một xe LaĐalat, Com-măngca, LaBatsắt – Đoàn bố trí cho nhóm kỹ thuật xe commăngca, còn xe Lađàlat, Labátsát chủ yếu chạy về Đồng Nai nhận lương thực, thực phẩm, vì Vũng Tàu trực thuộc tỉnh Đồng Nai cho đến 1979 khi thành lập Đặc Khu Vũng Tàu – Côn Đảo mới tách khỏi Đồng Nai, đồng thời cũng giành 2 xe này cho cán bộ đoàn, hoặc anh em lên Công ty để làm việc, họp hành.
Sau khi ổn định công việc, tháng 6 năm 1976, tôi giao lại việc điều hành cho anh Nguyễn Như Thị để ra Bắc đưa số quân còn lại vào Vũng Tàu.
Số cán bộ công nhân viên của đoàn dầu khí 21 Vũng Tàu lúc đông nhất là 146 người, không kể con em gia đình họ. Tất cả sống và làm việc tại làng thương phế binh, phòng thí nghiệm của anh Nguyễn Văn Hoàng cũng chuyển về đây và trả nhà số 4 Hoàng Hoa Thám cho địa phương. Vì thế cũng từ đấy mọi người gọi làng thương Phế Binh là khu đoàn dầu khí 21 Trần Bình Trọng.
Bây giờ thì một số người chuyển ra Bắc, một số người có nhà riêng, nhưng phần đông anh em vẫn còn ở lại và dù ngày nay thành phố Vũng Tàu thay đổi chóng mặt, nhà ngói, nhà tầng, khách sạn, mọc lên hàng ngày, nhiều nơi không còn dấu vết của cái Vũng Tàu hơn 30 năm về trước, dầu khí Vũng Tàu có một cơ ngơi đồ sộ, một lực lượng lao động đông đảo, chiếm tỷ lệ cao trong dân số Vũng Tàu đã và đang khai thác hàng trăm triệu tấn dầu, hàng chục tỷ m2 khí, thu về ngân sách Nhà nước hàng chục tỷ USD, nhưng khu nhà ở đoàn dầu khí 21 (làng Phế Binh) đường Trần Bình Trọng vẫn còn nguyên như những năm 1975 – 1976 nó như một chứng tích kỷ niệm một thời làm dầu khí đã qua trong lòng một thành phố công nghiệp dầu khí du lịch hiện đại. Nó như nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên một thời làm dầu khí như thế.
Một thời mà những người làm dầu khí không chỉ sống như thế mà khi đi khảo sát địa chất còn phải có cả tiểu đội bộ đội đi cùng để bảo vệ khỏi bọn phun rô; một thời mà khi đi lộ trình khảo sát nếu không thận trọng có thể vướng bom mìn và cướp đi sinh mạng của họ, nhưng những người làm dầu khí không chùn bước, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ được giao để góp phần tìm dầu cho Tổ quốc. Một cái thời mà sống cạnh đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, nhưng những người làm dầu khí đã chấp nhận ăn độn 90% tiêu chuẩn lương thực gồm: ngô, sắn, khoai, bo bo thậm chí cả chuối xanh, (chuối xanh cân cả buồng, cứ 5 kg thay 1kg độn) nhưng những người làm dầu khí vẫn vuợt qua mọi khó khăn với lòng khát khao tìm ra nhiều dầu cho tổ quốc. Có một câu chuyện hy hữu mà ít ai còn nhớ, đó là có hai cán bộ mới từ Liên Xô về nước, vào làm việc tại Vũng Tàu, khi sinh đứa con gái đầu lòng đã đặt tên cháu là BoBo để kỷ niệm một thời đi làm dầu khí, đứa cháu đó nay đã có gia đình nhưng ở nhà vẫn gọi cháu là Bo Bo.
Từ khi Công Ty Dầu Khí Nam Việt Nam chuyển xuống Vũng Tàu (1978) và được đổi tên thành Công Ty Dầu Khí II, bắt đầu một giai đoạn hợp tác với các Công Ty Dầu Khí nước ngoài để tìm kiếm dầu khí ở thềm lục địa, một binh đoàn bộ đội hùng hậu với hơn 10 ngàn quân – Binh đoàn 318 do đại tá Nguyễn Cận làm binh đoàn trưởng, Thiếu Tướng Trần Nguyên Độ làm chính ủy, suốt ngày ngâm mình dưới sình lầy, nước mặn nhổ sú vẹt, bốc hàng triệu bao xi măng, hàng vạn tấn sắt thép để xây nên bờ cảng dài hàng trăm mét để căn cứ dịch vụ tổng hợp trên bờ hiện nay của Vietsovpetro và ngành dầu khí Việt Nam, xây nên hàng chục nhà 5 tầng để có làng dầu khí Vũng Tàu cho hàng vạn lượt người Liên Xô trước đây, người Nga ngày nay và cả người Việt Nam đến ở để làm dầu khí.
Những người đến làm dầu khí ở Vũng Tàu thời ấy đã trên 30 năm, bây giờ có người đã mất, có người chuyển ra Bắc, chuyển đi nơi khác, có người còn làm việc, có người đã về hưu, nhưng chắc chắn chưa ai quên được cái thời đầu làm dầu khí ở Vũng Tàu, và chắc chắn trong họ còn đọng lại ít nhiều lòng tự hào đã có đóng góp một phần công sức của mình cho thành công của sự nghiệp dầu khí hôm nay, trong đó không thể không kể đến các anh Tô Ký, Phạm văn Diêu, Lê văn Cư, Nguyễn Ngọc Sớm, Trương Thiên, Hồ Tế, Nguyễn Đông Hải, Trần Văn Thạnh, Ngô Thường San, Bùi Hải Ninh, Hồ Ngọc Minh, Nguyễn Mạch…Vũng Tàu bây giờ là thành phố công nghiệp dầu khí, du lịch hiện đại có tiếng trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người, và nộp ngân sách nhà nước đứng vào hàng nhất nhì cả nước; đời sống nhân dân trong đó có cả những người làm dầu khí ngày càng được cải thiện, nhưng nhân dân thành phố Vũng Tàu chắn chắn không bao giờ quên ở Vũng Tàu có một thời những người đến đây làm dầu khí gian nan, vất vả như thế nào, nhưng họ vẫn sống làm việc hết mình vì sự nghiệp dầu khí.
Vào Nam Tìm Dầu
Hoạt động dầu khí ở miền Bắc Việt Nam được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ 20. Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng - Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã có chủ trương đẩy mạnh công tác khảo sát, phân vùng triển vọng dầu khí và tiến hành công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở miền Bắc Việt Nam.
Với sự giúp đỡ về vốn, trang thiết bị và chuyên gia dầu khí Liên Xô, chúng ta đã tiến hành công tác khảo sát, phân vùng triển vọng và tiến hành tìm kiếm thăm dò dầu khí, mà tập trung nhiều nhất tại vùng trũng An Châu và vùng trũng Hà Nội. Tuy nhiên, cho đến khi giải phóng miền Nam (1975) mặc dù chúng ta đã thực hiện một khối lượng lớn công tác nghiên cứu địa vật lí (điện, trọng lực, địa chấn) và khoan tìm kiếm thăm dò tại vùng trũng sông Hồng, trong đó có những giếng khoan sâu đến 5000m, nhưng vẫn chưa phát hiện mỏ dầu khí nào có giá trị công nghiệp.
Trên cơ sở thông tin về tình hình hoạt động dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam, ngay sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi, miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà giao cho Tổng Cục Địa Chất tổ chức một đoàn cán bộ nhanh chóng lên đường vào Sài Gòn tiếp quản và đánh giá tình hình và kết quả hoạt động dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Đoàn gồm 11 người do anh Nguyễn Ngọc Sớm – Đoàn trưởng Đoàn 36B làm trưởng đoàn, trong đó có các cán bộ ở Liên đoàn Địa Chất 36, văn phòng chính phủ, ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước và Tổng cục hoá chất. Đoàn được chia thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất do anh Trần Ngọc Toản dẫn đầu, đi bằng máy bay từ Gia Lâm vào Tân Sơn Nhất.
- Nhóm thứ hai do anh Nguyễn Ngọc Sớm dẫn đầu, đi xe ô tô từ Hà Nội vào Sài Gòn.
Đúng 7 giờ 30 sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975 (05 ngày sau khi Sài Gòn giải phóng) với bộ trang phục của Anh bộ độ cụ Hồ cùng mũ tai bèo, đôi giày vải, bao tượng gạo, mì chính, muối … chúng tôi lên ô tô để ra sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Lúc 9 giờ sáng, chuyến bay đầu tiên rời sân bay Gia Lâm đưa chúng tôi vào sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn. Trên chuyến bay này còn có thiếu tướng Hoàng Phương – Chính Uỷ bộ tư lệnh phòng không – không quân cùng bay vào Sài Gòn để chuẩn bị cho lễ mừng chiến thắng vào ngày 15 tháng 5 năm 1975.
Khi máy bay hạ độ cao để đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nhìn xuống thấy khu vực sân bay như một bãi chiến trường, nhiều chỗ còn khói bốc lên nghi ngút. Đường vào sân bay đầy rẫy các loại xe honda, xe jeep… nằm ngổn ngang. Khi đã xuống sân bay, hỏi ra mới biết đây là xe của những sỹ quan, binh lính và những người làm việc trong bộ máy chính quyền Sài Gòn và các tổ chức của Mỹ bỏ lại, khi tranh nhau lên máy bay di tản ra nước ngoài, trước khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn.
Do nhóm đi bằng ôtô từ Hà Nội vào xuất phát chậm, nên mãi tới ngày 12 tháng 5 mới vào tới Sài Gòn. Vì vậy, nhóm chúng tôi phải nằm lại sân bay Tân Sơn Nhất để chờ giấy trình Ban quân quản mới được phép đến địa điểm tiếp quản tài liệu dầu khí. Khi có giấy phép của ban quân quản Sài Gòn do tướng Trần Văn Trà ký, cả đoàn chuyển đến ở khách sạn Continental. Hàng ngày, chúng tôi đi bộ đến số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm – là trụ sở của Tổng cục dầu hỏa và khoáng sản để thu thập, nghiên cứu tài liệu dầu khí. Đây là các tài liệu mà các công ty tư bản đã làm với chính quyền Sài Gòn trước giải phóng miền Nam để lại. Tại đây, cũng đã có các anh ở tiểu ban quân quản địa chất và một số công chức làm việc ở Tổng cục này còn ở lại.
Sau ba tháng đọc, phân tích, tổng hợp và đánh giá tài liệu có được, cùng các thùng dầu thô do Công ty Mobil lấy được từ giếng khoan 1X (lô 09) thềm lục địa Nam Việt Nam, Đoàn viết báo cáo và quay ra Hà Nội. Báo cáo của đoàn được trình ngay lên Tổng cục địa chất và thủ tướng chính phủ, xác nhận thềm lục địa Nam Việt Nam đã phát hiện được dầu mỏ và khí đốt. Trên cơ sở báo cáo của Đoàn, ngày 09 tháng 8 năm 1975 Bộ chính trị họp và ra nghị quyết số 244 NQ/TW về việc triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong cả nước. Trên cơ sở nghị quyết của Bộ chính trị, ngày 03 tháng 9 năm 1975 chính phủ ra nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục dầu khí để thực hiện nhiệm vụ này.
Ngày 6 tháng 11 năm 1975, Tổng cục dầu khí ra quyết định thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam để làm nhiệm vụ tổ chức triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở miền Nam Việt Nam. Phần lớn cán bộ công nhân Việt Nam từ miền Bắc – Liên đoàn địa chất 36, Tổng cục hoá chất và một ít ở các cơ quan đơn vị khác - vào làm việc ở Công ty dầu khí Nam Việt Nam do các anh Lê Văn Cự, Trương Thiên, Nguyễn Ngọc Sớm… lãnh đạo, đặt trụ sở tại 27 – 28 bến Bạch Đằng, sau chuyển về đại sứ quán Mỹ. Trực thuộc Công ty dầu khí Nam Việt Nam có đoàn dầu khí 21 do ông Lê Quang Trung làm đoàn trưởng đóng tại Vũng Tàu và đoàn dầu khí 22 do ông Trương Minh làm đoàn trưởng đóng tại Vĩnh Long - làm nhiệm vụ khảo sát địa chất - địa vật lý trên đất liền (toàn bộ miền Nam Việt Nam). Từ tháng 8 năm 1978 Đoàn dầu khí 22 tách ra khỏi Công ty dầu khí Nam Việt Nam, thành Đoàn dầu khí đồng bằng sông Cửu Long.
Trên cơ sở kết quả tài liệu thu được, đoàn dầu khí đồng bằng sông Cửu Long đã khoan 2 giếng khoan tìm kiếm tại Cà Cối và Phụng Hiệp (thuộc bồn trũng Cửa Long) nhưng không phát hiện thấy dầu khí. Sau đo, đoàn dầu khí đồng bằng sông Cửu Long ngừng hoạt động, phần lớn cán bộ công nhân Việt Nam ở đoàn này chuyến về Vũng Tàu, vào làm việc ở Công ty dầu khí II. Phần còn lại của Công ty dầu khí Nam Việt Nam ở Tp. Hồ Chí Minh và đoàn dầu khí 21 Vũng Tàu thành lập Công ty dầu khí II (1978) trụ sở đóng tại số 4,9 Hoàng Diệu, sau chuyến ra trường thiếu sinh quân cũ, tổ chức tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam.
Từ năm 1978 đến năm 1980, Tổng cục dầu khí Việt Nam đã ký 3 hợp đồng với các Công ty Brow valley - Canađa (Lô 28, 29) Agip - Italia (Lô 4, 12), Deminex - Cộng hoà liên bang Đức (Lô 15). Công ty dầu khí II quản lý hoạt động của các Công ty này. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của cả thời gian 30 năm vào Nam tìm dầu. Công ty dầu khí II vừa phải tập trung lực lượng để hoàn chỉnh trụ sở làm việc, vừa tập trung hoàn thiện cầu cảng, kho bãi để tiếp nhận vật tư phục vụ cho các Công ty hoạt động trên thềm lục địa, trong lúc cuộc sống của cán bộ công nhân viên hết sức khó khăn. Nằm sát đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của miền Nam và của cả Việt Nam, mà vẫn phải ăn độn tới 80%. Lương thực được cấp theo tem phiếu với phần độn là chủ yếu: sắn khô (mì khô), bo bo và có khi còn được cấp cả những buồng chuối xanh thay cơm. Nhớ một chuyện rất vui là có hai anh chị học ở Liên Xô về đây công tác, sinh đứa con đầu lòng, đặt tên cháu là Bo Bo để kỉ niệm một thời gian khổ đáng nhớ. Tuy vậy, mọi người vẫn hăng say làm việc. Gian nan là vậy, nhưng anh em vẫn tin tưởng rằng: thềm lục địa Nam Việt Nam sẽ có dầu và đời sống sau này sẽ khá dần lên.
Ba Công ty trúng thầu đã khoan tới 12 giếng khoan, trong đó có một số giếng gặp biểu hiện dầu - khí, nhưng họ chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng dầu - khí ở thềm lục địa. Đến cuối năm 1980, cả 3 Công ty đều lần lượt rút khỏi hợp đồng. Kết thúc giai đoạn thứ 2 về tìm kiếm thăm dò thềm lục địa Nam Việt Nam, mà vẫn chưa có mỏ dầu nào được đưa vào khai thác. Mặc dù vậy, tài liệu thu được của hai giai đoạn này (trước năm 1975 và 1976 – 1980) đã tạo cơ sở rất thuận lợi cho công tác thăm dò và khai thác dầu - khí sau này ở thềm lục địa Nam Việt Nam.
Đất nước cần có dầu khí để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá. Phải sớm tìm ra dầu - khí có giá trị công nghiệp, đưa nhanh vào khai thác. Đó là lời yêu cầu của cả nước.
Do vậy, ngày 03 tháng 7 năm 1980, Hiệp định Liên Chính Phủ Việt Nam – Liên Xô về “hợp tác tiến hành tìm kiếm , thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam” được đại diện hai chính phủ ký tại thủ đô MATXCOVA - Liên Xô. Đến ngày 19/6/1981 hai bên ký tiếp Hiệp định về việc thành lập xí nghiệp liên doanh dầu – khí Việt – Xô (nay là XNLD Vietsovpetro) có nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò và khi thác dầu khí ở 7 lô thuộc thềm lục địa Nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 12 trở vào ở các bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn). Đây được coi là giai đoạn mang tính bước ngoặt lớn của lộ trình vào Nam tìm dầu.
Chưa đầy 3 năm kể từ khi thành lập (1981 – 1984) giếng khoan dầu đầu tiên tại Mỏ Bạch Hổ đã phát hiện dòng dầu có giá trị công nghiệp, sau đó 2 năm (1986) tấn dầu đầu tiên được khai thác lên từ mỏ Bạch Hổ, bắt đầu cho một thời kỳ khai thác công nghiệp dầu khí tại thềm địa Nam Việt Nam. Tuy nhiên qua nhiều giai đoạn tìm kiếm thăm dò, các nhà nghiên cứu dầu khí chỉ giới hạn việc tìm dầu trong đá trầm tích – là nơi có sản lượng không cao. Trên cơ sở tài liệu nghiên cứu thu được, tập thể cán bộ khoa học kỹ thuật Việt – Nga trong XNLD quyết định khoan sâu hơn với hy vọng sẽ tìm ra tầng dầu mới. Ngày 05/05/1986 tại BH6 & 06/09/1988 tại giàn khoan MSP-1 đã phát hiện mỏ dầu chứa trong móng nứt nẻ granit với sản lượng cao lên đến 1000 tấn/ ngày. Đây được coi là bước ngoặt thứ 2 đem lại tiềm năng lớn cho XNLD và ngành dầu khí Việt Nam nói chung. Nó không những nâng cao đột biến sản lượng khai thác hàng năm của XNLD, mà quan trọng hơn, đã làm thay đổi hẵn nhận thức về khả năng chứa dầu trong đá móng nứt nẻ, xưa nay hiếm thấy trên thế giới. Cũng chính phát hiện này đã kích thích các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu – khí quay trở lại thềm lục địa Nam Việt Nam.
Cho đến nay, ngoài các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng mà XNLD đã tìm thấy và đưa vào khai thác, nhiều Công ty dầu khí nước ngoài đã tìm ra và đưa vào khai thác nhiều mỏ mới trên bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn. Từ những tấn dau đầu tiên (40 ngàn tán năm 1986), đến nay sản lượng khai thác toàn ngành dầu khí đạt 20 triệu tấn dầu/ năm (qui đổi). Tới tháng 5/2007 sản lượng dầu khí khai thác được tại thềm lục địa Nam Việt Nam đạt trên 230 triệu tấn dầu, 35 tỷ m3 khí, trong đó XNLD đã khai thác tại các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng được 164 triệu tấn dầu, 17.5 tỷ m3 khí đốt. Riêng XNLD đạt tổng doanh thu 35 tỷ USD, chưa kể phần dịch vụ ngoài XNLD đạt 500 triệu USD.
Bên cạnh việc khai thác dầu, công tác dịch vụ dầu khí ở Việt Nam cũng phát triển rất nhanh. Khi mới bắt đầu khai thác, tất cả các dạng dịch vụ dầu khí đều thuê từ nước ngoài, kể cả dịch vụ đời sống cho người lao động. Đến nay, dịch vụ dầu khí đã phát triển mạnh mẽ, trong đó các đơn vị dịch vụ của ngành dầu - khí đóng vai trò quan trọng.
Sau quãng thời gian hơn 30 năm vào Nam tìm dầu, ngành dầu khí Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước với nhiều mỏ dầu - khí đang được đưa vào khai thác, với cơ sở dịch vụ đồ sộ ở địa bàn Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác, đóng góp một phần rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội của cả nước.
Ngày nay ngành dầu khí Việt Nam trở thành tập đoàn dầu khí, tiếp tục phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
19/05/2007