TS. Ngô Thường San, sinh năm 1938, quê quán Châu Thành, Sóc Trăng, tác giả các báo cáo: “Kiến tạo miền Bắc Việt Nam”; “Địa chất và triển vọng chứa dầu bồn trũng An Châu’; “Địa chất và triển vọng chứa dầu thềm lục địa phía Nam Việt Nam”, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Hữu nghị Liên Bang Nga, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Nguyên  TGĐ Vietsovpetro, Nguyên TGĐ - TCTy Dầu khí VN.

Tên “Bạch Hổ” đã đi vào các văn liệu dầu khí thế giới và được ghi nhận như mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là mỏ có trữ lượng cực lớn với sản lượng cao từ móng granitoid Mezozoi trong bể trầm tích Đệ Tam trên thế giới.

Vietsovpetro đã phát hiện ra mỏ dầu Bạch Hổ, và kể từ khi bắt đầu khai thác dầu từ móng mỏ Bạch Hổ đến nay đã gần tròn 20 năm. Việt Nam đã khai thác trên 160 triệu tấn dầu, thu gom khoảng 20 tỷ mét khối khí từ các mỏ dầu trong móng với gần 5 triệu tấn LPG và condensat.

Vietsovpetro không những đã xây dựng phương pháp luận về hệ thống dầu khí trong móng mà còn đóng góp về hệ phương pháp công nghệ trong khoan, nghiên cứu mỏ, khai thác duy trì áp suất vỉa, tối ưu hóa hệ số thu hồi dầu với nhịp độ cao, xây dựng các phần mềm tính toán thông số vỉa, vv.

Các công ty dầu khí và dịch vụ nước ngoài cũng theo đó mà hoàn thiện hệ công nghệ nghiên cứu dầu trong móng, đặc biệt trong thu nổ, xử lý và minh giải địa chấn, trong kỹ thuật đo và xư lý số liệu địa vật lý giếng khoan, trong công nghệ khoan qua tầng móng nứt nẻ, những giải pháp kỹ thuật tăng hệ số thu hồi…

Những thành tựu khoa học - công nghệ này là kết quả sáng tạo của các nhà địa chất và kỹ sư dầu khí, của tập thể lãnh đạo Vietsovpetro cần được trân trọng và nghiên cứu nhân rộng, ứng dụng trong thực tiễn không chỉ trong bể Cửu Long mà trên các bể khác ở thềm lục địa Việt Nam.

Nhưng nhiều khi một sự kiện quan trọng, cần để được suy ngẫm thì được giải thích đơn giản, nếu không nói là ngây thơ, khi ai đó cho việc phát hiện dầu trong móng có lẽ do kíp khoan “ngủ quên” khoan vào móng và từ đó Vietsovpetro phát hiện tầng sản phầm dầu trong móng !

Có lẽ nên bắt đầu từ bối cảnh của Hiệp Định 3/7/1980 về dầu khí giữa hai Chính phủ Việt Nam - Liên Xô.  Nhiều người cho điểm xuất phát của Hiệp Định là từ mệnh lệnh trái tim, hay nói cách khác từ tình hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa VN-LX, từ nhiệm vụ chính trị với quyết tâm sớm xây dựng cho Việt Nam một ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh từ khai thác đến lọc dầu, để Việt Nam tự giải quyết vấn đề năng lượng của mình. Tư tưởng này được thể hiện trong sự chỉ đạo của Bộ Công nghiệp Khí (Liên Xô). Và cũng với quan điểm đó “Báo cáo kinh tế kỹ thuật về phát triển và khai thác thử công nghiệp mỏ Bạch Hổ” được hình thành trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá lại các tài liệu có được lúc đó là tài liệu địa chấn của Geco thu nổ và xử lý mạng 1x1 km năm 1978 và tài liệu giếng khoan mỏ Bạch Hổ -1X (BH-1X) của công ty Mobil khoan năm 1974, với nội dung cơ bản là sẽ tiến hành khai thác sớm mỏ Bạch Hổ với 2 dàn khai thác cố định MSP-1, MSP-2 và 6 giếng thăm dò BH-1,2,3,4,5,6, trong đó có 2 giếng BH-1,2 sẽ được khoan từ dàn cố định MSP-1,2, sau đó chuyển sang khai thác. Dầu sẽ được chuyển bằng đường ống đến khu xử lý KPN ở Tân Thành BRVT.

Có thể nhiều người sẽ thắc mắc có quá phiêu lưu và duy ý chí đến khó hiểu nếu chỉ dựa vào tài liệu địa chấn và một giếng khoan của Mobil mà đã đầu tư xây dựng khu cảng - dịch vụ trên bờ, khu nhà ở 5 tầng và quan trọng hơn là xúc tiến xây ngay 2 dàn MSP, là quá rủi ro chăng?

Đúng thế, câu hỏi này luôn ám ảnh chúng tôi và lãnh đạo của Vietsovpetro nhiều năm và gay gắt nhất vào năm 1987-88, cho đến tháng 9 năm 1988 khi khai thác được tấn dầu công nghiệp đầu tiên trong móng. Giả thiết nếu không gặp dầu trong móng thì từ câu hỏi trên sẽ là đầu đề của một “scandale” lớn dầu khí, một bài học kinh nghiệm quá đắt trong lịch sử dầu khí Việt Nam, khi một đất nước đang dè xẻn từng hạt gạo phải dốc hết sức để hy vọng đổi lấy dầu nay trở thành ảo vọng! Tại sao không thuê khoan một giếng tìm kiếm trước để kiểm tra lại số liệu của Mobil ?

Những câu hỏi như thế không phải các chuyên gia Liên Xô lúc bây giờ không biết đến và không đề cập.  Làm việc với tôi, đồng chí Seremeta (trưởng tổ chuyên viên kỹ thuật) thẳng thắn hỏi và đồng thời cũng để trả lời: Thế các anh có muốn Việt Nam sớm có dầu không?  Các anh thử chỉ cho xem ở Việt Nam còn cấu tạo nào triển vọng hơn Bạch Hổ để phía Liên Xô có thể đầu tư khai thác sớm? Hai nước chúng ta không có ngoại tệ để thuê dàn di động đến khoan, Liên Xô hiện đang đóng một dàn khoan di động để khoan cho cả đề án Việt Nam và Xakhalin. Chúng ta không thể chờ đến khi có dàn vì theo kế hoạch giữa năm 1983 mới đóng xong và cũng không thể chờ khoan xong giếng tìm kiếm kiểm tra lại tài liệu Mobil để đến lúc đó mới triển khai xây dựng các cơ sở khai thác! Việt Nam sớm phải có dầu vẫn là mục tiêu thôi thúc đoàn công tác Liên Xô.  Nhưng…nếu không có dầu, thì cũng có khu nhà ở 5 tầng, một khu cảng cho Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, và nếu rủi ro thì chỉ ở 2 dàn MSP. Tôi không biết lắm về lịch sử xây dựng khu “Neftianư Kamni” - nhưng phía bạn thường nhắc đến khu “Neftianư Kamni” - đó là công trình xây dựng sau Cách Mạng tháng 10 Nga, trong hoàn cảnh rất khó khăn và còn rủi ro hơn Bạch Hổ hiện nay khi chưa có một tài liệu địa chấn tin tưởng nào ở Biển Caspien mà còn mang đá ra đổ ngoài biển để xây dựng “Neftianư Kamni”, nhưng nay “Neftianư Kamni” trở thành thành phố dầu lửa giữa biển ở Azerbaijan. Bạn rất tự tin vào trí tuệ và sự nhậy cảm địa chất của họ. Hai đồng chí chuyên gia trong lĩnh vực địa chất và công nghệ mỏ hàng đầu và giàu kinh nghiệm của Bộ Công nghiệp Khí - Ovanhetsov, và Zavrev tham gia đoàn lãnh đạo “liên Bộ” của Phía Liên Xô rất tin ở triển vọng mỏ Bạch Hổ…

Vấn đề thoạt tưởng không lôgic nhưng trong bối cảnh nào đó là giải pháp tối ưu.

Ngày 25/12/83 tàu khoan Mirchink khoan giếng BH-5 gần vị trí giếng BH-1X của Mobil. Giếng dự kiến sẽ khoan hết lát cắt trầm tích Đệ tam với chiều sâu thiết kế 3500m dựa theo cấu trúc giếng của BH-1X.  Hy vọng của cả nước đặt vào kết quả giếng khoan này. Đồng chí Đặng Của - đại diện Vụ kỹ thuật Tổng Cục Dầu khí (Phía Việt Nam) trực tiếp giám sát. Vào những ngày cuối tháng 4, đồng chí Võ Văn Kiệt ra thăm dàn khoan. Nhưng sau khi khoan qua “tầng sản phẩm 23” ở chiều sâu khoảng 2730m (hiện gọi tầng dầu Bạch Hổ) đến khoảng chiều sâu 3001m thì lo ngại với chiều sâu quá lớn không được chống ống và nếu gặp phức tạp địa chất do tầng sét trương nở ở khoảng 2600m tương tự khi Mobil khoan giếng BH-1X, có thể gây sự cố cho giếng, nên hai phía chấp nhận dừng ở chiều sâu 3001m, không khoan đến chiều sâu thiết kế để đảm bảo an toàn cho giếng và tầng sản phẩm đã gặp ở giếng BH-1X.

Ngày 25/5/84 thử vỉa, phát hiện dầu trong trầm tích Mioxen (Tầng 23). Cả nước vui mừng vì lần đầu tiên Việt Nam tìm thấy dầu và dầu chắc chắn sẽ được khai thác trong tương lai gần. Lễ đốt đuốc mừng dòng dầu công nghiệp được tổ chức. Không vui sao được khi đất nước tràn đầy khó khăn nay phát hiện thấy dầu – một cứu cánh cho đất nước.

Tin vui thật đấy nhưng cũng là nỗi lo cho những người làm địa chất dầu khí ở Vietsovpetro vì lưu lượng thử khoảng 20 tấn/ngày chỉ bằng 1/15 lưu lượng mà Mobil công bố. Tại sao? – trong khi bắn vỉa có gì sai sót chăng ở giếng BH-5? Hoặc do bản thân năng lượng vỉa yếu không đúng như Mobil công bố! Làm việc với nhóm kỹ thuật của tàu Mirchink thì không thấy có gì sai sót trong quy trình thử vỉa và chọn vị trí bắn…

Vấn đề này trở nên quan trọng khi cuối năm 1984 Bộ Công nghiệp Khí phải phê duyệt trữ lượng và Sơ đồ công nghệ khai thác thử mỏ Bạch Hổ. Với số liệu giếng BH-5 việc phê duyệt sẽ là một khó khăn lớn... Cần phải nhanh có giếng thăm dò thứ hai!

Năm 1984-1985 các khối chân đế MSP 1,2 lần lượt được đưa ra biển và bắt đầu xây lắp dàn MSP-1 để khoan tại vị trí hiện được gọi là vòm trung tâm mỏ Bạch Hổ, nơi giếng BH-1X (Mobil) phát hiện dầu…

Việc đặt vị trí giếng thăm dò tiếp theo là cả một sự gay cấn! Đa số cho phải khoan ở vị trí không xa giếng BH-5, quanh khu vực “đỉnh của mỏ Bạch Hổ”, có lẽ với mong muốn có một lưu lượng tốt hơn để khẳng định triển vọng mỏ Bạch Hổ. Mặc dù không nói ra, nhưng ai cũng cảm nhận giếng BH-5 không giải quyết được mục tiêu đề ra.

Đối với Vietsovpetro, tầng 23 được khẳng định có dầu và mục tiêu lúc bấy giờ của Vietsovpetro là tính được trữ lượng mỏ Bạch Hổ có bao nhiêu, vì đó là yếu tố quyết định đến tương lai phát triển của VSP. Cần phải nhanh chóng mở rộng diện tích thăm dò! Vietsovpetro cương quyết bảo vệ luận điểm của mình yêu cầu khoan giếng BH-4 ở phía bắc mỏ Bạch Hổ, cách giếng BH-5 khoảng 10 km, mặc dù nhiều người phản đối cho rằng vị trí giếng BH-4 thiếu cơ sở khoa học. Quan điểm khoan BH-4 được phía Bộ Công nghiệp Khí ủng hộ. Trong cuộc họp nội bộ phía VN ngày 7/6/84, tôi và đ/c Đức - Phòng Địa chất cố gắng thuyết phục khoan giếng BH-4 nhưng không thành. Hội nghị quyết định VSP phải chọn vị trí ở BH-3. Chúng tôi thông báo kết luận Hội nghị cho đ/c Ardjanov và Nguyễn Ngọc Cư lúc đó bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Phó TGĐ thứ nhất. Đồng chí Ardjanov báo cáo về Moskva, còn anh Cư cùng anh Phan Tử Quang báo cáo cho đ/c Đỗ Mười lúc đó là Phó Chủ tịch HĐ Bộ trưởng về quan điểm của Phía Liên Xô và của chúng tôi. Ngày hôm sau, đ/c Cư thông báo là đã nhận được điện của đ/c Đỗ Mười cho khoan giếng BH-4. Mặc dù được sự đồng ý cũa lãnh đạo cấp trên, nhưng nỗi lo vẫn canh cánh trong lòng. Nếu giếng BH-4 không phát hiện dầu thì sao?.. nếu giếng nằm ngoài ranh giới khép kín địa chấn như một số chuyên gia khẳng định thì sao? .. Lại thêm một nguyên nhân để trở thành “scandale” nữa. Nhưng với tinh thần trách nhiệm, lãnh đạo Vietsovpetro vẫn quyết định khoan BH-4 và giao cho Phòng Địa chất cùng Phòng Khoan chuẩn bị dữ liệu khoa học, xây dựng phương án và thiết kế giếng, tổ chức giám sát thi công an toàn, đạt mục tiêu đề ra đối với giếng BH-4.

Ngày 22/7/84 dàn Ekhabi bắt đầu khoan giếng BH-4. Tháng 10/84 đoàn của VSP sang Moskva để tham gia duyệt báo cáo trữ lượng và Sơ đồ công nghệ mỏ Bạch Hổ do Viện NCTK Xakhalin lập. Hội nghị dễ dàng thông qua khi được tin vui từ Vũng Tàu thông báo là đã khoan qua tầng 23 có biểu hiện dầu tốt, đồng thời cũng đang gặp tầng sản phẩm mới khá dày, biểu hiện dầu tốt có thể có tuổi Oligoxen. Các đồng nghiệp Liên Xô ủng hộ phương án khai thác sớm mỏ Bạch Hổ rất hân hoan về thành công này. Giếng BH-4 mở ra một triển vọng mới đối với Vietsovpetro khi khẳng định được sự duy trì của tầng 23 ở vòm bắc, nhưng vấn đề quan trọng là ngày 15/2/1985 đã phát hiện tầng dầu mới có sản lượng cao – tầng Oligoxen, mà trước đó các công ty tư bản như Agip, Deminex không thừa nhận có triển vọng ở thềm lục địa Nam Việt Nam và các giếng đều dừng ở nóc tầng Barat (Oligoxen). Tổng lưu lượng các vỉa có thể lên đến 1000 tấn/ngày. Ngày 7/3/1985 mặc dù hôm đó biển rất động nhưng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các đồng chí Đỗ Mười, Tố Hữu và đoàn của Chính phủ, Tổng Cục Dầu Khí đi tàu Gambursev ra thăm dàn Ekhabi và chứng kiến kết quả thử vỉa, nhưng rất tiếc biển động rất mạnh, tàu phải quay về bờ và ngày hôm sau đồng chí Tố Hữu làm bài thơ về chàng hoàng tử đánh thức nàng tiên dưới thủy cung Biển Đông.

Những tranh luận chung quanh triển vọng mỏ Bạch Hổ tạm thời lắng xuống.

Giữa năm 1985, giếng khoan BH-1 bắt đầu được khoan từ dàn MSP-1. Giếng mang nhiệm vụ vừa khai thác vừa thăm dò. Mọi người rất kỳ vọng và mong đợi ở kết quả giếng BH-1.  Mặc dù tầng 23 được xác định ở chiều sâu 2730m nhưng vì có nhiệm vụ thăm dò nên giếng được thiết kế khoan hết lát cắt trầm tích đến chiều sâu thiết kế - 3300m. Tại sao có chiều sâu 3300m, lý do là theo tính toán mặt phản xạ tầng móng được xác định ở 3150m, và theo quy định của giếng thăm dò ở Liên Xô thì chiều sâu thiết kế phải cộng thêm 5%. Khi khoan đến chiều sâu khoảng 3000m, giếng gặp phải tầng sét đen, và sau đó ở độ sâu 3030m (?) bắt đầu có những thành phần các mãnh vỡ sắc cạnh của thạch anh và felspat bị kaolinit hóa mạnh. Lúc đó chưa có khái niệm về móng granit. Chúng tôi vẫn ngỡ là lớp sạn kết đáy, và vì có biểu hiện dầu nên vẫn tiếp tục khoan. Nhưng càng xuống sâu đến 3118m càng bị mất dung dịch mạnh. Không có hóa chất xử lý. Ai đó sáng kiến là dùng vỏ trấu trộn vào dung dịch khoan để chống mất dung dịch. Và trấu từ Bà Rịa được chở ra biển. Cố gắng khoan tiếp đến 3178m… Để đảm bảo an toàn cho giếng và tầng 23, lãnh đạo Vietsovpetro quyết định dừng khoan và hoàn tất giếng để thử vỉa.

Khi thử vỉa vì dung dịch lẫn trấu bịt bộ thử vỉa nên kết quả ghi cho hình ảnh là vỉa “khô”, cộng với tài liệu carôta không đầy đủ, nên trên bờ kết luận là vỉa không có dòng dầu, yêu cầu kết thúc thử vỉa, mặc dù tôi yêu cầu cho phép thử lại. Tôi chỉ thị không lắp và nén ximăng mà chỉ đổ cầu ximăng, với suy nghĩ đơn giản là giếng sau khi khai thác tầng trên xong sẽ tìm cách quay lại để thử “lớp sạn kết đáy” này…Tiếp tục thử tầng 24… Không có dòng! Trong bờ điện cho tôi lúc đó đang ở MSP-1, là phải nhanh chóng kết thúc thử vỉa để chuyển sang khai thác tầng 23 không để tàu Krưm phải chờ đợi. Sau khi đặt xong cầu ximăng ngăn cách, việc bắn vỉa và khai thác tầng 23 được thực hiện theo chương trình và dòng dầu đầu tiên được chuyển về UBN-1 (tàu Krưm) ngày 26/6/86 trong niềm hân hoan chung của đất nước, của tập thể CBCNV Vietsovpetro, và của những người tìm dầu nói chung.

Nhưng đối với chúng tôi và các cán bộ Phòng Địa chất niềm vui ấy không trọn vẹn. Sản lượng chỉ vẻn vẹn hơn 100 tấn/ ngày, áp suất đầu giếng thấp, khoảng trên 20 at, thể hiện năng lượng vỉa yếu, thấp hơn cả kết quả thử tầng 23 ở giếng BH-4 ở vòm Bắc.

Giếng thứ 2 (BH-28) khoan tiếp tục từ MSP-1 về hướng MSP-2 không cho dòng. Tầng 23 gần như bị mất hẳn…do đứt gãy hay do bị sét hóa? Nếu là do sét hóa thì đó là bi kịch đối với Vietsovpetro. Những giếng tiếp tục từ dàn MSP-1 không cho dòng tốt hơn giếng BH-1, khẳng định tầng 23 không có triển vọng tốt như đã nghĩ, và đặc biệt bị vát mỏng do sét hóa về hướng MSP-2, nơi đã đặt chân đế dàn cố định và chuẩn bị xây lắp cấu trúc bên trên.

Giếng BH-1 sau thời gian khai thác, khoảng 4 tháng, từ áp suất đầu giếng - 23 at tụt xuống còn khoảng 10 at, các giếng sau cũng không bổ sung lưu lượng tốt hơn. Sản lượng toàn MSP-1 chưa đến 100 tấn/ ngày. Nhìn ngọn đuốc cháy leo lét ở faken MSP-1 mà không khỏi bùi ngùi.

Sự hoang mang cực độ bắt đầu lan dần từ Vietsovpetro ra Hà Nội, Tổng Cục Dầu khí, lên cấp trên và đặc biệt ở Moskva. Phản ứng đầu tiên là sự chuyển giao Vietsovpetro từ Bộ Công nghiệp Khí sang Bộ Công Nghiệp Dầu. Nhiều đồng chí trong đoàn chuyên viên Liên xô trước đó, kể cả Trưởng đoàn bị chuyển công tác. Sau này khi Vietsovpetro đã khai thác tấn dầu thứ 20 triệu tấn, có dịp gặp đồng chí Belư – nguyên Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Bộ Khí dẫn đoàn chúng tôi thăm giếng khoan sâu ở Bắc cực có kể lại – “Bây giờ Vietsovpetro đã đạt những thành tích, nhưng thời gian qua chúng tôi bị hiểu không đúng, âu đó cũng là cuộc sống!!”.

Trong Vietsovpetro có lẽ tôi là người bị sức ép nhiều nhất. Nhiều chuyên gia Liên Xô từ Viện NIPI (lúc đó gọi là Xưởng NCTK) gặp tôi vừa muốn tìm hiểu người “sáng tạo” ra chủ trương xây dựng 2 dàn MSP-1,2, đầu tư cơ sở hạ tầng, vừa tập trung phê phán gay gắt bước đi vừa qua là đã gây thiệt hại, và không lối thoát.  Ngay cả đồng chí Ardjanov – Tổng Giám đốc, con người rất tốt, tâm huyết với công việc, khi ốm  được đồng chí Đỗ Mười điện hỏi thăm, cũng rất băn khoăn. Có lần tôi và đồng chí Ardjanov đóng cửa phòng làm việc và trao đổi có phần rất gay gắt, là có nên dừng khai thác, mở rộng tìm kiếm sang các lô khác để có một chiến lược hoàn chỉnh cho Vietsovpetro, hay cứ tiếp tục chờ các giếng ở MSP-1 đang tắt dần. Quan điểm mở rộng diện tích hoạt động cho Vietsovpetro được đồng chí Nguyễn Ngọc Cư  - phó TGĐ thứ nhất ủng hộ và báo cáo xin ý kiến đồng chí Đỗ Mười.

Về phía Việt Nam tư tưởng bi quan cũng có tác động đến chủ trương của lãnh đạo, là chậm lại việc đầu tư xây dựng cảng dầu khí, không tiếp tục xây dựng khu nhà ở 5-tầng, điều một số cán bộ chủ chốt ra Hà Nội.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng rất quan tâm và trong chuyến công tác tại Vietsovpetro yêu cầu tôi báo cáo thực trạng của mỏ Bạch Hổ.

Đoàn chuyên viên cao cấp của Bộ Dầu do Thứ trưởng Philimonov dẫn đầu sang kiểm tra công việc, tham gia đoàn có đồng chí Vụ trưởng Vụ địa chất và công nghệ mỏ. Phòng địa chất được giao nhiệm vụ chuẩn bị tất cả các tài liệu để đoàn kiểm tra. Tôi chờ đợi một sự phê phán và kết luận tiêu cực đối với mỏ Bạch Hổ, thì ngược lại, các đồng chí chỉ ra cho tôi cách tổ chức kiểm tra khai thác sao cho tốt hơn, và cần phải nhanh chóng tổ chức bơm ép nước và chuẩn bị khai thác thứ cấp bằng bơm ly tâm.

Trước khi kết thúc việc kiểm tra, đồng chí Philimonov có gặp riêng tôi và trao đổi, đồng thời cũng là dặn dò tôi – cần tập trung tổ chức, đẩy nhanh tiến độ xây lắp và khai thác khu vực phía bắc mỏ; tổ chức lại công tác kiểm tra khai thác; sẽ cử các chuyên gia về công nghệ mỏ sang Vietsovpetro, xây dựng Viện NIPI trong XNLD để có thể thực hiện chức năng thiết kế mỏ và các công trình biển tại Việt Nam; đặc biệt quan trọng là ngay lúc đó phải tổ chức bơm ép nước để duy trì áp suất vỉa. Đồng chí kể cho tôi ngay cả trường hợp các mỏ lớn ở Xibêri như Samotlo, Urengui do bơm ép duy trì áp suất vỉa không kịp thời nên để hậu quả khó khăn về sau, ảnh hưởng đến hệ số thu hồi..

Viện  NIPI làm lại thiết kế mỏ Bạch Hổ, tập trung chủ yếu ở phía bắc mỏ với 5 dàn từ MSP-3 đến MSP-7 theo mạng x400m cho tầng 23 và x600m cho tầng Oligoxen dưới. Loay hoay mãi với các phương án khai thác nhưng Viện Nipi, lúc đó đồng chí Demuskin cũng không sao đưa ra phương án sản lượng 1 triệu tấn dầu/ năm vào 1990, theo tôi hiểu lúc đó Liên Xô phải đảm bảo số dầu hàng năm cho Việt Nam. Năm 1983 khi cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Vietsovpetro có lần cũng đã nói lên điều mong ước này của đất nước. Nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với Vietsovpetro là phải đánh giá xong trữ lượng mỏ Bạch Hổ, đặc biệt khu vòm Bắc, và hoàn tất  phương án khai thác thử mỏ Bạch Hổ, điều chỉnh lên vòm bắc. Phía bạn không cung cấp kịp chân đế và các block kiến trúc bên trên. Đồng chí Arjanov chỉ đạo cho chánh kỹ sư – đồng chí Puri làm việc với Viện Ucraine tổ chức “cưa” chân đế MSP-2 và chuyển lên phía bắc, tận dụng các block của MSP-2. Công tác này phải được thực hiện trong năm 1988.

Để tiếp tục nhiệm vụ thăm dò đánh giá trữ lượng, giếng Bạch Hổ-6 có nhiệm vụ khoanh ranh giới phát triển tầng Oligoxen về phía Nam, đồng thời cũng để xác định ranh giới tầng 23…Giếng cho thấy tầng 23 bị sét hóa, ít triển vọng, tiếp tục khoan qua tầng sét đen gặp tập cát sét mỏng, sau đó là đến tầng móng phong hóa.

11/5/87 tàu Mirchink khi thử vỉa trong sự vui mừng và ngỡ ngàng phát hiện dòng có lưu lượng đạt trên 500 tấn/ngày ở vỉa đáy của giếng BH-6.

Nhưng…Dầu từ đâu?  Có hai ý kiến:

- ý kiến của đa số là dầu từ Oligoxen, với lý do là về năng lượng vỉa, lưu lượng khá giống số liệu tầng Oligoxen được phát hiện tại giếng BH-4,

- dầu từ móng phong hóa, nhưng lúc đó cũng chưa nghĩ rằng tầng phong hóa của móng lại có lưu lượng cao đến thế và trong các văn liệu địa chất giáo khoa cũng ít nói đến các mỏ tương tự.

Nhưng quan trọng hơn cả nếu khẳng định dầu từ trong móng, có nghĩa là phủ định sự có mặt dầu trong Oligoxen tại giếng BH-6 này, như thế nhiệm vụ thăm dò tầng Oligoxen không hoàn thành, nay phát sinh thêm một đối tượng mới sẽ làm chậm tiến độ tính trữ lượng và thời hạn hoàn thành “Sơ đồ khai thác thử công nghiệp mỏ Bạch Hổ”. Mặc dù lúc đó Phòng Địa chất thuyết phục tôi đó là tầng sản phẩm mới – móng phong hóa!…Để dung hòa hai ý kiến, phương án duy nhất là xem vỏ phong hóa và tầng Oligoxen là một đối tượng khai thác và có sự liên thông giữa lớp phong hóa của móng và lớp trầm tích đáy của Oligoxen.

Câu chuyện dầu trong lớp vỏ phong hóa cũng dần tạm lắng xuống.

Mặc dù cũng có nhiều tin vui do việc phát hiện dầu ở Rồng và đặc biệt ở Đại Hùng, nhưng bài toán kinh tế khai thác mỏ Bạch Hổ vẫn làm lãnh đạo Vietsovpetro chúng tôi đau đầu. Việc khai thác mỏ Bạch Hổ chỉ có thể có lãi nếu giá một tấn dầu khoảng 120 rúp chuyển nhượng trở lên theo phương án của đồng chí Demuskin đưa ra, cao gấp nhiều lần giá dầu thế giới theo các tỷ giá chuyển đổi giữa đồng rúp chuyển nhượng và đồng USD.

Không thể chấp nhận được. Hơn nữa ta cần xem xét vấn đề này trong bối cảnh lịch sử lúc đó, ở Liên xô có “Perestroika” và ở Việt Nam là tinh thần “Đổi mới”, làm ăn phải có hiệu quả. Vì thế câu hỏi có tiếp tục hay không tiếp tục khai thác mỏ Bạch Hổ… trở thành gay gắt đối với chúng tôi. Vòm bắc có dầu nhưng chưa được khai thác, khi đó thì ở vòm nam các giếng ở MSP-1 đang tắt dần.., dàn MSP-2 đang ngâm mình dưới sóng biển. Việc di chuyển chân đế MSP-2 lên phía bắc trở thành trọng tâm. Theo lẽ nó phải được thực hiện trong thời gian biển tốt tháng 5, nhưng vì phía bạn chưa chuẩn bị xong phương án, nên được hoãn vào tháng 9/1988 chỉ cần thời tiết tốt trong 2-3 tuần.

Trong năm 1988 công tác khoan khai thác kết hợp thăm dò từ các dàn cố định được đẩy mạnh với chủ trương từ mỗi dàn có một giếng khoan tận thăm dò được thiết kế khoan vào móng. Vào tháng 8 năm đó, có cuộc họp của Ban Tổng Giám đốc, đồng chí Vovk lúc đó đã thay đồng chí Arjanov làm Tổng Giám đốc, đồng chí Cư, Puri, và tôi thảo luận về phương hướng tiếp tục đối với dàn MSP-1 và MSP-2. Tôi tha thiết yêu cầu trước khi cắt chân đế dàn MSP-2, cho phép khoan thêm một giếng về phía dàn MSP-2 (tính từ dàn MSP-1) để kiểm tra lại tầng 23 và lần này thiết kế sâu xuống móng phong hóa, vì theo dự kiến đỉnh móng Bạch Hổ cao nhất ở khu vực MSP-2, kết hợp kiểm tra tầng móng. Đó là giếng khoan thăm dò BH-47R từ dàn cố định MSP-1, mà Viện Nipi đã nhận được nhiệm vụ thiết kế của lãnh đạo Vietsovpetro (chữ “R” để chỉ giếng thăm dò - Razvedotsnaia”).  Các đồng chí cũng đồng ý với tôi nếu trong tháng 9 không có cửa sổ thời tiết và việc cắt chân đế phải chuyển sang năm sau.

Tôi đề nghị đồng chí Vovk trong trường hợp như thế nên nghiên cứu khả năng khoan lại giếng BH-1, nếu có thể cho khoan qua đế ống chống 168mm để kiểm tra lại việc thử vỉa không thành công trước đây. Tôi nhắc lại cho đồng chí Vovk là giếng chỉ đặt cầu xi măng từng đoạn. Đối với một giếng khai thác khi ống chống khai thác đã bị bắn thủng thì việc thả choòng trở lại để khoan tiếp là vấn đề hết sức rủi ro, nên đồng chí Vovk gọi điện cho đồng chí Phuntov, lúc đó là Cục trưởng Cục khoan đến để bàn thực hiện vì theo đồng chí Vovk, cũng là một chuyên gia về khoan, thì việc khoan xuống trở lại có rủi ro, nhưng không phải không thực hiện được. Khi trao đổi thì đồng chí Phuntov khẳng định là làm được và đồng chí đã có văn bản đề nghị khoan quay lại tầng móng trong giếng BH-1. Và nhiệm vụ đó được giao cho Cục khoan thực hiện trước khi khoan giếng mới. Việc khoan trở lại giếng BH-1 như thế nào sẽ được quyết định tiếp tùy tình trạng giếng. Giếng BH-1 được khoan thông trở lại thành công.

Tôi nhớ vào khoảng 10 giờ sáng ngày 6/9/88 đồng chí Vovk điện cho tôi thông báo trong quá trình rửa giếng ở đoạn cuối thì dòng dầu lên mạnh, áp suất đầu giếng khoảng 110at, hiện đang đóng đối áp để chờ ý kiến trong bờ. Tin vui đến quá bất ngờ. Không thể đóng giếng lâu vì lo thiết bị đầu giếng với áp suất thiết kế không chịu nổi.

Hoặc dập giếng bằng dung dịch nặng, và hoàn tất giếng theo đúng quy cách bằng cần khai thác, hoặc cứ để vậy và cho khai thác bằng cần khoan, chờ đến khi áp suất giảm, lúc đó mới sửa chửa giếng và hoàn tất giếng đúng theo quy định của một giếng khai thác. Ban lãnh đạo chọn phương án sau, và có lẽ là điều hãn hữu trong lịch sử dầu khí khi một giếng được khai thác bằng bộ khoan cụ.

Giếng cho dòng lớn, lúc đó không đo được nhưng ước tính là khoảng 2000 tấn/ngày. Không những CBCNV Vietsovpetro vui mừng mà cả nước. Nhiều đồng chí kể với tôi là có đồng chí lãnh đạo không kiềm nổi xúc động và không hiểu có phải nghe nhầm không?

Như vậy, tập thể lao động quốc tế Vietsovpetro không cần phải khoan thêm giếng thăm dò BH-47R mà đã khẳng định lại thật sự có một tầng dầu mới sản lượng cao trong móng mỏ Bạch hổ. Lúc đó chỉ mới có khái niệm dầu được hình thành trong lớp vỏ phong hóa, do đó một số giếng khi gặp đá móng tươi là đã dừng khoan. Có giếng khi khoan qua phức hệ trầm tích Đệ tam là gặp đá móng tươi, không có lớp vỏ phong hóa, nhưng khi khoan tiếp thì gặp những đới mất dung dịch liên quan với đứt gãy, và khi thử vỉa thì dòng lên rất mạnh, và từ đó hình thành quan điểm về thân dầu trong đá móng nứt nẻ... Dầu tiếp tục được phát hiện và khai thác sâu dần trong móng. Cột dầu tăng dần theo chiều sâu ở những mỏ phát hiện về sau.

Việc phát hiện dầu trong móng không phải là ngẫu nhiên, là kết quả của cả quá trình diễn biến về nhận thức, có yếu tố khách quan và chủ quan, là công lao của một tập thể chịu đựng bao nhiêu thăng trầm, mà sự đóng góp của họ, những người đã chấp nhận rủi ro, thiệt thòi để đưa phương án khai thác sớm mỏ Bạch Hổ vào hiện thực cần được ghi nhận và trân trọng.

Phát hiện dầu trong móng mới chỉ là một giai đoạn phát triển của ngành dầu khí Việt Nam. Nhưng quy luật phân bố dầu trong móng, cơ chế dòng trong môi trường móng nứt nẻ với tính chất hai độ rỗng, khai thác tăng cường sao cho hiệu quả là cả một thách thức lớn, đòi hỏi trình độ, sáng tạo của những người đang viết tiếp trang sử dầu khí Việt Nam hiện nay.

Tôi xin cảm ơn các cộng sự địa chất ngày đầu của Vietsovpetro đã giúp tôi tư liệu để viết những trang hồi ký này. Tôi cũng thành thật xin lỗi không nêu được hết tên rất nhiều đồng chí Liên Xô, Việt Nam đã đóng góp thầm lặng cho sự nghiệp phát hiện và khai thác dầu trong móng nứt nẻ, nhiều đồng chí hiện đang giữ những cương vị lãnh đạo ở Tập Đoàn DKVN, ở Vietsovpetro, Tổng Công ty Thăm dò Khai thác dầu khí, Zarubejneft, Bộ Công Nghiệp khí nay là Gazprom….

Tháng 7/2007