"Nguyễn Cường binh tướng tài mắc nạn Ðất Hải Phòng chiếm bến Lạch Tray"
L ại nói sau khi xem xong cẩm nang của Trí Liễn và tiếp được mật chiếu của thiên triều lệnh phải tiến quân ra biển, Nguyễn Ðiền mừng lắm, bèn sai quan đại thần Trần Thụ cùng với hơn chục tướng tài không kể ngày đêm phải đi gấp tới Hải Dương để phối hợp với tướng Cường Binh vẽ cho xong tấm địa đồ duyên hải, chuẩn bị cơ sỏ cho đại quân đánh chiếm Hải Phòng.
Ðể công việc được nhanh, Ðiền cấp thêm cho mỗi người 30 quan một ngày, vì thế mọi người làm việc không kể ngày đêm. Mới đầu mùa dưa lê, mà tấm địa đồ đã xong quá nửa. Ðiền lại sai Giang Thịnh xem thiên văn chọn ngày lành tháng tốt để kéo đại quân đi, nhưng tướng sĩ của Ðiền còn xôn xao bàn tán. Có kẻ không muốn đi vì Xuân thủy đang vào mùa lắm tôm nhiều cá. Có kẻ sợ ra Hải Phòng vì không thạo việc bán buôn. Kẻ quên phận mình vì vui bầy lợn nái, kẻ ham cuốc đất vì tham bụi sắn dây. Vì thế suốt mấy tháng liền Nguyễn Ðiền vẫn còn phân vân chưa quyết. Quan tư vấn Vũ Tiến Hải bàn với Ðiền rằng :"tôi nghe nói viên quan đầu tỉnh Hải Phòng tính tình ngang bướng khó bề thu phục được. Chi bằng ta hãy sai Cường Binh ở Hải dương ồ ạt kéo quân về, lại sai Giang Thịnh có vợ con ở đất Hải Phòng đứng ra làm nội ứng, thì mọi việc mới mong thành." Ðiền khen phải bèn sai sĩ tốt ngựa khỏe đi đêm ngày phải mang ngay lệnh tiễn tới Cường Binh, hẹn ngày ấy tháng ấy phải mang quân xuống chiếm Hải phòng.
Lại nói Cường Binh vốn sinh hạ trên đất Xuân Trường cách thành Nam không đầy mươi dặm. Khi xưa Binh đã từng một mình bơi mảng chuối dọc sông Nhị hà trong mùa con nước để xem xét địa hình, vì thế được gọi là thủy sư đô đốc Nguyễn Cường Binh. Sau Binh lại làm tới chức chánh văn phòng cai quản một vùng thị xã Hải Dương, trong tay có tới mấy nữ tỳ hầu hạ. Binh vốn có tài lấy vợ trẻ hơn người, lại thích vẽ địa đồ, suốt ngày lấy việc cạo chì tẩy xóa làm vui, chỉ ngặt vì tính tình nóng nảy nên sĩ tốt dưới quyền có kẻ đem lòng thù oán. Khi bực bội điều gì, Binh thường trợn mắt nghiến răng, nắm chặt 2 tay đấm mạnh xuống bàn, rồi ngửa mặt lên trời mà than rằng: " thật là kinh khủng!" Nhưng khi cao hứng lên, Binh đưa nét bút đi như rồng bay phượng múa, rồi hể hả nói với sĩ tốt rằng:" Trong tay sẵn có bút chì, nâng lên hạ xuống có gì khó khăn ". Có lần xem tấm địa đồ của Binh chỉ thấy những đường xanh đỏ tím vàng nhì nhằng như mạng nhện, Hiếu đã mắng Binh rằng :
" Chỉ vì có Nguyễn Cường Binh Cho nên đứt gãy mới linh tinh thế này " Sĩ tốt cũng họa theo: "Nếu tôi là Nguyễn Cường Binh Ðừng hòng tôi vẽ linh tinh thế này"
Nay Binh nhận được lệnh của Ðiền thì trong lòng vô cùng lo sợ, vội tế ngựa về Xuân Thủy bẩm với Ðiền rằng:
"Thần trộm nghĩ dân Hải Phòng quen việc ăn chơi, tiền tiêu như nước chảy, nay nếu đại vương bỏ đất Xuân Thủy lắm tôm nhiều cá mà đi, đời sống gặp khó khăn, sĩ tốt sinh lòng làm phản, thì cái hại ấy thật khôn cùng." Ðiền nghe xong giận lắm bèn quát to:" lôi Cường Binh ra chém." Ði giữa hai hàng gươm giáo sáng lòa, nét mặt Binh vẫn tỉnh như không và còn ngửa mặt lên trời nói to những lời khảng khái :
"Cũng chỉ vì lo việc dân sinh Ngờ đâu tai họa đến với mình 300 năm nữa ta đâu biết Thiên hạ ai người khóc Cường Binh"
Thấy Binh là người nghĩa khí, Ðiền mới lệnh tha cho, nhưng cũng cách chức chánh văn phòng, bắt về làm việc dưới trướng của quan đại thần Trần Thụ .
Thế rồi chọn đúng ngày lành tháng tốt, Ðiền thân hành lên ngựa u oát kéo đại quân đi. Nhìn vị tướng già mái đầu đã điểm màu sương vẫn còn lận đận việc quân, nhiều người dân trong vùng không sao cầm được nước mắt. Các cụ già không dám khóc to thành tiếng cho khỏi sái trong buổi ra quân. Thế rồi cơ nào đội nấy diễu đi trong tiếng trống rung trời, tinh kỳ rợp đất các thuyền chiến cũng nhằm hướng cửa Ba Lạt rầm rộ lao đi. Nhưng vì đường sá xa xôi, ngựa xe lại ít, nên hầu hết vợ con các chiến binh phải bỏ lại ở vùng Xuân Thủy. Vì thế mới diễn ra cảnh kẻ ở người đi, vợ chồng ly tán, tiếng lợn kêu con khóc vang rền cả một khúc sông.
Người đời sau có thơ trách Ðiền rằng : "Hải Dương, Xuân thủy lại Hải phòng
Biết rồi có chuyển nữa hay không
Sĩ tốt nhọc nhằn, dân khốn khổ Cảnh ấy ai trông chẳng xót lòng"
Ðiền kéo quân ra Hải Phòng đã hơn một tuần, mà chưa tìm được nơi đóng quân hạ trại bèn vội cử Ðỗ Chí Hiếu làm quan thuyết khách, đứng ra thương lượng với quan đầu tỉnh Hải Phòng.
Lại nói Chí Hiếu là người sinh hạ ở đất Thái Bình, nhưng đã nhiều năm trấn thủ vùng quán Toan chùa Vẽ. Hiếu vốn mình cao 8 thước, dáng người đường bệ phương phi, khiến cho nhiều người tưởng lầm là khách ngoại bang. Khi xưa Hiếu đã từng nhiều phen bôn ba hải ngoại, lại có tài uốn ba tấc lưỡi nói được thứ tiếng xì xồ chẳng khác gì các đạo sĩ người Nga. Sau vài ba lần thương nghị, cảm vì tài thuyết khách, nên quan đầu tỉnh Hải Phòng đã đồng ý cho Ðiền mượn một nửa tòa lâu đài ở đất Lạch Tray làm nơi đóng quân hạ trại. Tòa lâu đài này có lớp rào quanh cây mọc um tùm gió thổi không qua. Người đời sau quen gọi đây là trường Tô Hiệu.
Nhưng quả như lời Binh nói, sau khi ở Hải Phòng đã được nửa năm, các tướng còn hoang mang giao động, có kẻ xót vợ thương con còn bơ vơ ở miền Xuân Thủy, có kẻ lo không biết bầy lợn nái bây giờ sống chết ra sao. Tướng Nguyễn Cường Binh đã mấy phen phải về mua cá khô ở miền Xuân Thủy đem ra tiếp tế. Tướng Sách Trọng muốn bỏ Ðiền để về với Ðắc Hoài ở mạn Hưng Yên. Ðến như quan ngự sử Phạm Tú cũng muốn bỏ Ðiền về với Nguyễn Tất Trâm ở miền Cổ Nhuế. Các tin ấy đến tai Ðiền, khiến cho Ðiền buồn rầu lo lắng, khí huyết không được lưu thông lâu ngày sinh thành căn bệnh. Giữa lúc ấy lại có trát của quan đầu tỉnh đòi trả lại lâu đài, khiến Ðiền càng không biết xoay xở ra sao. Nhưng trát đòi gấp quá, nên Ðiền đành phải kéo đại quân đi. Các tướng mạnh ai nấy chạy, cướp đường tháo thân. Tướng Văn Vượng kéo đám chân tay giỏi nghề vô tuyến về chiếm khách sạn Cầu Rào. Tướng Giáp kéo đám tàn quân chạy về vùng Quán Toan - Chùa Vẽ. Còn Nguyễn Ðiền thân hành dẫn đại quân cùng đám tay chân thân cận chạy về vùng Vạn mỹ - Cầu Tre. Trên đường rút chạy người ngựa dồn đạp lên nhau thiệt hại rất nhiều. Trong đám loạn quân có một tướng ngửa mặt lên trời than rằng :"Ta đây sinh ra làm tướng ở đời, dẫu rằng ngựa cưỡi dù che mà để cho muôn dân phải lầm than cơ cực, thì sống cũng bằng thừa." Ðoạn rút gươm toan tự vẫn. Thế mới rõ thực là:
"Việc nước xưa nay có bại thành Bạc tóc vì thương lũ dân lành Rút kiếm toan về nơi cực lạc Quên mình cho vẹn chút thanh dan
Chưa biết tính mệnh tướng ấy ra sao, xem hồi sau mới hiểu.