Hiện nay chỉ vào những dịp Quốc lễ đài tiếng nói Việt Nam mới đưa bài hát “Đi dọc Việt Nam” - 1 sáng tác của nhạc sĩ Cát Vận lên sóng nhưng vào cuối những năm bẩy mươi của thế kỷ XX khi bài hát này mới ra đời thì bái hát này thường được chọn lên sóng không những trong những chương trình ca nhạc thông thường mà cả trong chương trình ca khúc theo yêu cầu của thính giả vào sáng chủ nhật hằng tuần. Khi đó nhóm văn nghệ-đàn-nhạc-thơ-phú của chúng tôi gồm Nguyễn Vũ Sơn, Hoàng Xuân Bản và mấy người bạn nữa trong mấy đơn vị Dầu khí ở thị xã Hưng Yên hình thành từ ngày đóng quân ở Chợ Gạo thường nán lại sau cuối giờ làm việc tại 1 phòng tập thể nào đó rồi kẻ đàn, người sáo, tay phách tập xướng âm theo đàn Guitare những bài hát mới mà Nguyễn Vũ Sơn, người thường mang số liệu dầu khí đi Hà Nội xử lý trên máy tính điện tử mới mua được bản nhạc đem về. Vào thời đó rất ít nhà riêng có TV, máy cassette, thậm chí nghe đài cũng nghe từ loa công cộng. “Kỹ thuật số” lúc đó chỉ là các thiết bị trên trạm ghi sóng địa chấn hoặc xử lý số liệu địa chấn dùng trong tìm kiếm thăm dò dầu khí chứ không có các thiết bị dân dụng phổ biến như hiện nay, cũng không hề có khái niệm về mạng internet, blog. Cả mấy cơ quan chỉ có 1 chiếc TV đen trắng thuộc thế hệ đèn điện tử chân không xuất xưởng từ giữa những năm sáu mươi để tập thể xem chung chương trình thời sự hoặc những bộ phim chỉ có 1-2 tập phát sóng duy nhất 1 buổi vào chiều tối. Vì vậy trong điều kiện các phương tiện giải trí nghèo nàn như thế cho nên trước mỗi dịp lễ chương trình văn nghệ của thanh niên trong từng cơ quan nhà nước được khuyến khích phát triển mạnh và cũng được chính cán bộ nhân viên chào đón nồng nhiệt. Hoàng Xuân Bản “độc quyền” về sáng tác thơ, Nguyễn Vũ Sơn và tôi thì phụ trách phần nhạc. Số còn lại thì nhiệt tình đóng góp bằng những giọng ca. Sơn rất thích những sáng tác của Cát Vận, đặc biệt là bài hát này vì Sơn cho rằng “có khám phá, sáng tạo từ những nguyên liệu đơn giản nhất nhưng lại gây hiệu quả nhất”. Bài hát mở đầu bằng câu: Đi dọc Việt nam, đi suốt thời gian từ đất Tổ tôi đi/ qua những cánh rừng màu xanh tươi nắng, gặp đất biển miền Trung cát trắng, đến những cánh đồng màu mỡ miền Nam/ đâu đâu cũng Biển Bạc Rừng Vàng…”. Khởi đầu bằng những nốt trầm nhưng giai điệu đã vút lên tươi tắn ở ngay câu tiếp theo song như chững lại chút ít bằng mấy nốt nửa cung ở “miền Trung cát trắng” rồi reo vui đến sảng khoái ở câu kết có luyến láy rất diệu nghệ “ đâu đâu cũng Biển Bạc Rừng Vàng” bằng âm hưởng của âm chủ đoạn nhạc này. Thật khâm phục nhạc sĩ ở chỗ 4 từ “Biển-Bạc-Rừng-Vàng” đưa vào thơ đã khó song Cát Vận, lần đầu tiên đã được đưa vào nhạc một cách hoàn hảo với giai điệu ngọt ngào như mật ong rừng tràm. Tuy nhiên, với những ai đã quen nghe “nhạc sống”, mà dẫu có dùng các thiết bị tăng âm đi nữa thì kỹ thuật AGC (Automatic Gain Control) thời đó cũng còn thô nên nghe được giọng thật không khác nhạc sống bao nhiêu thì mới thấy hết cái hay của bài hát, không giống như thứ “nhạc điện tử” ngày nay nghe cứ đều đều, giọng ca nào cũng na ná giống nhau.
Khai thác ong rừng tràm U Minh. Ảnh: Huỳnh Lâm.
Sau những ngày tháng sôi nổi đó cuộc sống của những người làm dầu khí cũng như người lao động cả cả nước gặp nhiều khó khăn hơn. Chúng tôi chia tay nhau, người bắc , kẻ nam đi theo những công trình dầu khí mang theo câu hát đó với niềm tin hăng say đến cháy bỏng: tìm ra dầu khí cho Tổ quốc. Hoàng Xuân Bản và tôi năm trước năm sau cùng “Nam tiến”. Nguyễn Vũ Sơn lặng lẽ hơn khi cha anh, nhà văn Nguyên Hồng đột ngột qua đời, anh trở lại Bắc Giang với nghề hướng dẫn giải đạo hàm bậc nhất, bậc hai và các phép tính vi phân, tích phân ở trường chuyên của tỉnh.
Bẵng đi một dạo, Hoàng Xuân Bản trở lại với bạn bè bằng những chùm thơ và ký về mỏ dầu Bạch Hổ:
Em bây giờ ở phía bình minh Anh ở phía hoàng hôn về lặn Hai đứa - hai giàn khoan trên biển Mấy ngày đường một gang nước, ơi em?
Mỗi sáng anh nhìn phía mặt trời lên Thấp thoáng giàn khoan - người yêu ta đó! Mỗi bận chiều buông trên vùng biển cả Em đứng lặng nhìn về phía hoàng hôn.
Điện sáng bừng một vùng biển thâu đêm Biển thao thức tựa lòng người trăn trở Những tầng sâu gọi người tìm dầu mỏ Giữa biển khơi và gió giật, sóng gầm.
Anh say sưa mỗi công việc đang làm Đãi mẫu vụn chai sần bàn tay trẻ Em đo gió và chiều cao sóng bể Nâng tầm nhìn từ những giàn khoan
(Thành phố niềm tin, 3/1986).
Những vần thơ của anh càng trở nên hào sảng hơn sau mỗi mũi khoan phát hiện thêm dầu: Ngày và đêm nơi đây cứ tiếp liền/ Cho mũi khoan xuyên địa tầng tìm mỏ /Bỗng sáng nay bừng cháy lên rồi ngọn lửa/ Trên lâu đài - dầu mỏ - giữa biển khơi.
Cái đận 1986 - khai thác tấn dầu đầu tiên từ mỏ dầu Bạch Hổ thật đáng nhớ ấy thì trong khoảng nửa năm trời chúng ta chỉ lấy được từ lòng đất 40 nghìn tấn dầu thô 34-36 độ “ ây pi ai” (API) song cái chất lưu huỳnh đáng ghét bởi tính háo kim loại của nó nhanh làm hỏng các thiết bị khai thác và chế biến, thêm nữa còn tiểm ẩn phản ứng hóa học sinh ra thứ khí đáng sợ gọi là dihydro sulfur (H2S) ở trong dầu Bạch Hổ lại khá thấp nên dầu này được ưa chuộng trên thị trường, khai thác bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Thế nhưng qua năm sau rồi năm sau nữa sản lượng chỉ quanh quẩn ở vài trăm nghìn tấn/ năm: Ba ngàn mét, rồi khoan năm ngàn mét/ Dòng dầu lên cũng nức nở, sụt sùi/ Những giàn khoan trụ giữa biển khơi/ Có công sức bạn bè ta xây lắp/ Bao sóng gió và nắng mưa, bão táp/ Để dâng về triệu tấn dầu thô/ Chưa đủ thắp đèn và xát gạo, chà ngô (Hạnh phúc ở chân trời, 6/ 1987).
Cụm từ “một triệu tấn dầu” dẫu còn nhỏ nhoi, Chưa đủ thắp đèn và xát gạo, chà ngô nhưng nó là tín hiệu đi lên của đồ thị khai thác dầu. Qua năm sau, 1988, không rõ yếu tố may mắn chiếm bao nhiêu phần trăm ở đây nhưng có một điều chắc chắn là bằng vào những nỗ lực miệt mài, bền bỉ không ngừng của những người làm dầu khí gồm cả Việt Nam và “bạn bè ta” ở câu thơ trên - chuyên gia Liên Xô trên vùng mỏ dầu Bạch Hổ, một thay đổi mang tính đột phá: phát hiện ra dầu trong khối đá móng plutonic nứt nẻ. Những tứ thơ của Hoàng Xuân Bản, như được chắp thêm cánh, bay lên theo đồ thị sản lượng dầu thô khai thác hằng năm. Không chỉ dừng ở “một triệu” vào năm 1989 mà còn vươn lên nhiều triệu tấn vào những năm sau đó, đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước đang đứng trước thử thách đổi thay mang tính toàn cầu giai đoạn 1989-1991 ấy thì những triệu tấn dầu thô khi đó còn quý hơn cả vàng: Ai bảo Vũng Tàu bé tựa bàn tay/ Khi có chúng tôi xây THÀNH PHỐ NỔI?/ Điện sáng trắng suốt một vùng đất mới/ Dầu phun lên - mùa khai thác bắt đầu! (Chỗ đứng, 1986) và Mùi dầu thơm xen hương biển mặn mòi/ Đã thắp sáng tình yêu Tổ Quốc/ Lâu đài của chúng tôi thành bông hoa mơ ước/ Nở trên xanh thềm lục địa bao la (Lâu đài trên biển, 1986) và rồi đến độ: Những lâu đài nguy nga trên biển sóng/ Điện sáng bừng “Thành Phố Nổi” đêm đêm/ Những cánh tay trần như mãi sáng lên/ Mùa khai thác những tấn dầu trăm triệu . . . (Có một tình yêu, 1995). Cái cụm từ “ Thành-Phố-Nổi” Hoàng Xuân Bản – Nguyễn Duy Quế đem đặt tên cho tổ hợp khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ nghe thật lãng mạn, thật sang, tự nó cũng đã nói lên được tầm vóc quốc gia của khu công nghiệp dầu khí này.
Trong chùm thơ về mỏ dầu Bạch Hổ của Hoàng Xuân Bản không thiếu những khổ thơ ghi lại những hình ảnh sinh động của những người bạn Nga cùng những những cảm xúc cảm lãng mạn với người con gái Nga “mái tóc vàng óng ả” từ miền Cra-xnô-đa: Ngoài ấy - những giàn khoan/ Những ngọn lửa thử dầu - thay ánh ngày rực sáng. / Tàu Krưm - Trạm rót dầu không bến/ Mỗi ngày qua nặng thêm mấy tấn dầu thô?/ Anh công nhân tóc sáng màu Nga/ Cùng bè bạn Việt Nam nói cười ồn ã (Trên cầu tiền cảng, 1985-1987) hoặc: Mấy người bạn Nga cởi trần, mũi đỏ/ Bên các bạn Việt Nam/ Vẫn tiếp thêm cần khoan khi chưa tới mạch dầu (Đêm và ngày, 1987) và đây: Người con gái Nga/ Mơ màng nhìn biển biếc/ Mái tóc vàng óng ả / Nụ cười đốt lửa/ Mắt xanh mơ/ Đôi má em chín lựng dưới nắng hè/ Gợi nhớ quê hương em/ Cra - xnô - đa, mùa táo chín ( Tạm biệt trên tàu khoan, 1987).
Giờ đây, với độ lùi của thời gian đủ lớn, đọc thơ Hoàng Xuân Bản ta có cái cảm giác “biên niên sử” thật rõ rệt. Thơ của anh, một cách “vô thức” đã theo sát ngày tháng diễn ra các sự kiện lớn cùng các mối quan hệ nhân sinh trên vùng mỏ dầu công nghiệp đầu tiên của nước ta. Còn nhớ một chí sĩ họ Phan, đâu tầm 1928, viết đại ý “ Một bài thi, một bài văn, hay là một tập thi, một tập văn mà làm cho người ta quý trọng và lưu truyền được là nhờ có đặc sắc về hai đường: một là về đường mỹ thuật, hai là về đường lịch sử... Đặc sắc về lịch sử nghĩa là trong thi văn có lưu lại những cái dấu vết của xã hội đồng thời với tác giả; đời sau đọc đến có thể nhờ đó mà nhận ra cuộc đời hồi ấy hoặc ít hoặc nhiều, có thể đem thi văn ấy mà đối chứng với những điều nghi ngờ trong lịch sử. Từ xưa đến nay, những tay văn hào bất tử, thường là gồm cả hai mặt đó “. Vâng, chúng ta thường tự trách mình là ít ghi lại được những sự kiện liên tục mang tính lịch sử để đời sau tham khảo mà biết được cái thời ấy người ta làm công nghiệp thế nào, sống với nghề dầu khí ra sao thì đây, Hoàng Xuân Bản đã làm giúp chúng ta cái việc thật đáng quý, thật đáng trân trọng ấy qua chùm thơ về mỏ Bạch Hổ.
Trong thơ anh không thiếu mây bay, gió thổi, trăng treo, biển sóng nhưng trăng này mắc võng trên tháp khoan tàu Michin (một cái tên Nga!): Vầng trăng đung đưa mắc võng/ Trên tháp khoan tàu Mi-chin (Đêm trên tàu khoan); Gió bỗng lặng im, sóng bớt ầm ào/ Thiên nhiên sững sờ trước con người chiến thắng/ Tháng năm này, biển Vũng Tàu vui lắm/ Chúng tôi tìm ra chỗ đứng cho mình (Chỗ đứng) còn cái tháng năm “Gió bỗng lặng im, sóng bớt ầm ào” đó chính là tháng Dầu phun lên - mùa khai thác bắt đầu! (1986). Trong thế giới thi ca bấy nay đâu thiếu gió-mây-trăng, song nếu chỉ có gió mây trăng vu vơ đâu đó thì theo con mắt nhìn của nhà địa chất thì dù là gió-mây-trăng của “đánh mất tình yêu” đi nữa cũng không khác gì gió-mây-trăng hoang dã của kỷ Đệ tứ cách ngày nay đến mấy triệu năm! Cho nên mưa, dù là mưa bóng mây, ở Bạch Hổ cũng gắn với ngày bắn mìn mở vỉa gọi dòng: Biển dưới chân vẫn sóng vỗ vô tình/ Trời thu vẫn màu xanh bình thản/ Mưa trong nắng trên sàn khoan lấp lánh/ Gương mặt nào cũng rạng rỡ niềm tin/ Những người thợ bắn mìn/ Trong mưa rơi vẫn nói cười hể hả/ Đem sức nóng trái tim mình son trẻ/ Mở những mạch dầu mấy ngàn mét tầng sâu/ Mưa, vẫn mưa xối xả trên đầu/ Mìn đã nổ!/ Mở vỉa rồi!/ Kéo cáp!/ Niềm mơ ước tự bao đời ôm ấp/ Nở sáng bừng trong mắt thợ giàn khoan/ Những giọt dầu theo cáp ngược lên/ Đang rơi xuống giữa tiếng cười chiến thắng (Mưa, 1987).
Sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua những bài thơ tình của Hoàng Xuân Bản đầy ắp nỗi khắc khoải nhớ nhung về nơi lần đầu anh vào nghề dầu khí cùng bao kỷ niệm, một phần đã được nhắc đến trong phần đầu bài viết này với những địa danh nổi tiếng cả nước như Phố Hiến, Hưng Yên xanh thắm những rặng nhãn lồng, nơi mà Liên đoàn địa chất 36-đơn vị tiền thân của ngành dầu khí ngày nay đã dừng chân lại lâu nhất cùng bao người con phiêu lãng: Hưng Yên ơi! Nghe dĩ vãng vọng về/ Bao kỷ niệm vui buồn thời xưa cũ…/ Sông Hồng dâng mênh mang mùa nước lũ/ Dáng em gầy thấp thoáng ở triền đê/ Mái nhà tranh lặng lẽ dưới bờ tre… Nghe giọng nói ngọt vị đường phố Hiến/ Hoa lục bình vẫn mênh mang màu tím/ Em vô tình...thôi đành vậy, rồi xa/ Chiêù Hưng Yên vang vọng tiếng chuông chùa/ Như đưa tiễn bước chân người phiêu lãng (Gặp lại, 1991) hoặc một nét đặc trưng riêng, rất riêng của chợ Gạo, chợ Đầu với bờ đê cao, hồ sen lá úa khô gọi mùa đông đến như mang theo mãi cả nỗi buồn:
Nhớ khi xưa Má hồng như táo chín Em đạp xe băng qua mảng trời chiều Dốc bờ đê chợ Gạo cao cao Bóng em mờ trong chiều tím Ôi nhớ lắm! Những chiều phố Hiến Nét thanh bình thị xã Hưng Yên Hoa mướp vàng trong gió ngả nghiêng Sen tháng chín lụi dần trong gió bấc Mùa hè thoáng qua em, rồi vụt tắt Em lấy chồng, thế là đã mùa đông. . .
(Mùa đông, 1995).
Qua những bài thơ tình ta thấy dường như cái nơi vào đời đã để lại trong trái tim của Hoàng Xuân Bản một bóng giai nhân: Anh gặp em cuối mùa thu bẩy mốt/ Nắng sẫm vàng, trời xanh trong khóe mắt/ Lặng nhìn nhau ta chẳng nói năng chi/ Chỉ mỉm cười thôi, như quen tự bao giờ/ Và rặng nhãn bên đường như cũng ngẩn ngơ/ Và thời gian như ngừng trôi trên má/ Hưng Yên đây một chiều thu ngọt mía/ Anh gặp em rồi đời bỗng thấy vui lên…Gió thu về vờn khẽ tóc mây trôi (Gặp em) để rồi:
Hưng Yên ơi! Đi già nửa cuộc đời Vẫn gặp lại những ngày xưa khờ dại Tình yêu bây giờ thành kẻ thù thân ái Gần nhau chi, khi buột miệng rằng yêu...
Gần nhau chi khi em đã qua cầu Kiêu hãnh trong sắc màu xiêm áo Biển xa xanh, trời cao xanh hư ảo Em rất gần mà đành vậy rồi xa...
(Gửi Hưng Yên, 1972-1992)
Như vậy, cái mạch “biên niên” trong thơ Hoàng Xuân Bản còn nối xa hơn, lùi về tận nơi anh vào đời: Hưng Yên. Cái lối tả chân xen những ẩn dụ trong những câu thơ khá chau chuốt ấy đã để lại cho người đọc sự đồng cảm sâu nặng, ngân mãi như tiếng chuông chùa chiều Hưng Yên xưa ấy.
Nhiều năm sau nữa trong khi tham gia nghiên cứu đánh giá khí Hydrocarbon ở tầng nông với mục đích đưa vào ứng dụng dân sinh tôi có dịp lang thang trên đồng bằng sông Chu, sông Mã-địa phận tỉnh nhà của Hoàng Xuân Bản (xa lắm rồi! ơi dòng sông Mã/ vẫn nghe thác đổ phía sau mình, Góp vào hương biển) , chuyến đi cũng không khác mấy với cảnh “đi dọc Việt Nam”. Về diện tích thì đồng bằng sông Chu, sông Mã chỉ đứng hàng thứ ba nhưng vẻ đẹp và độ phì nhiêu của đồng bằng xứ Thanh không hề thua kém so với Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Mấy hôm sau chúng tôi đi về Sầm Sơn khảo sát hệ thống nứt nẻ trên khối granite là đối tượng có khả năng chứa dầu khí. Cả đoàn đều sững sờ trước vẻ đẹp lãng mạn đến mê hồn của hòn trống mái, huyền thoại một tình yêu vĩnh cửu.
Gặp lại Hoàng Xuân Bản không lâu sau đó, sau khi chia sẻ những cảm nhận về thi văn “Dẫu còn nhiều vất vả gian nan/ Nhưng đất nước đang căng tràn sức trẻ/ Những dòng sông ngàn năm lặng lẽ/ Mang phù sa bồi đắp nước non này, Đất nước), bỏ dở câu chuyện về vùng mỏ Bạch Hổ sau nhiều trăn trở nay đã định hình phát triển vượt bậc và liên tưởng tới những ngày đầu đội quân kỹ sư, công nhân vượt gian khó đi làm dầu khí từ Hưng Yên, hôm nay đã có nhiều vùng mỏ đang khai thác dầu khí từ bể Sông Hồng tới Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lai-Thổ Chu tôi hăm hở trở lại với đề tài “Biển Bạc Rừng Vàng”, bắt đầu từ chính quê hương Thanh Hóa của anh. Những tưởng anh hưởng ứng nào ngờ hoàn toàn chưng hửng khi anh dội 1 gáo nước lạnh “thôi dẹp bỏ biển bạc rừng vàng của cậu đi”. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên Hoàng Xuân Bản không nói tiếp câu nào nữa. Chừng mấy tháng sau anh “đáp lễ” tôi bằng bài viết dài trong đó có đoạn “Thanh Hóa đi lên từ 4 chữ L” : Lúa ,Lang, Luồng, Lợn (!) mặc dầu toàn bài viết đó Hoàng Xuân Bản rất tâm đắc với đóng góp của mình từ năm 1977 vào sự hình thành khu công nghiệp lọc hóa dầu Nghi Sơn ở quê anh.
Vẫn không chịu dẹp ý nghĩ về “biển bạc rừng vàng” vì cho rằng nếu con người ta lười suy nghĩ, lười hành động, chỉ khoanh tay ngồi mơ nhón lấy vàng, bạc của cải sẵn có mà tiêu xài thì đến cả khối vàng như dãy Hoàng Liên Sơn cũng mất hết cho nên trong 1 lần đến thăm Hoàng Xuân Bản tại nhà riêng ở thành phố Vũng Tàu đầy nắng gió, hàn huyên một hồi về văn thơ tôi đưa ra mệnh đề “nước ta giàu và đẹp”. Hoàng Xuân Bản nói dồn một cách gay gắt: mình vẫn đang thuộc hạng nước nghèo của thế giới, dân mình vần còn đói nhiều! Con người! Tất cả chỉ do con người chúng ta cả! Cậu bay bổng ở đâu mãi thế? Đến nước này thì tôi đành phải im lặng. Mấy chục năm người dân mình hai sương một nắng từ chỗ thiếu ăn nhiều thì nay xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều đều xếp hạng nhì hạng ba của thế giới. Các mặt hàng khác như cao su, chè, hải sản các loại cũng vào hàng “top ten” của thế giới về số lượng xuất khẩu tính theo tấn (không phải theo giá trị gia tăng). Rất nhiều mỏ khoáng sản của nước ta cũng đứng vào hàng “top ten” như trên nhưng vẫn còn đạng ở dạng “tiềm năng”, mình chưa biết biến nó thành “vàng”.
Chia tay bạn bước ra cổng, tôi tần ngần đứng bên bộ bàn ghế đá anh kê dưới gốc cây điệp hoa vàng.
Gốc cây điệp này có hình dạng thật lạ: phần gốc khá to, đầu tiên mọc nghiêng hướng ra phía nhiều ánh sáng, sau đó đổi hướng đi ngang nhưng hơi dẹt, uốn nhẹ xuống và phình to ra rồi mới trở về tròn dần ở đoạn cong vút lên trời theo dáng parabol với nhiều cành rực rỡ hoa vàng. Liên tưởng tới những bài thơ trải dài trong mấy chục năm của Hoàng Xuân Bản, tôi buột miệng: cây như người - luôn vươn thẳng. Vâng, dẫu có biển bạc rừng vàng mình cũng không thể chỉ nhìn theo đường thẳng.
Hà Nội, tháng trọng xuân năm Canh Dần