PGS.TS. Hoàng Văn Quý, sinh năm 1950, quê quán Tiên Lữ - Hưng Yên, Nguyên Giám đốc XN.ĐVL giếng khoan, Viện Trưởng Viện NCKH&TK dầu khí biển, VSP, Giải Nhất giải Sáng tạo KHCN toàn Quốc - VIFOTEC, Huy chương Vàng của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới - WIPO. Ngoài cái sự nhiệt tình, chu đáo đến chi tiết, khắt khe trong công việc, Hoàng Văn Quý có một tâm hồn văn thơ, luôn ghi lại cảm xúc của mình trước thiên nhiên, con người như GIỌT DẦU PHIÊU LƯU KÝ và TRƯỜNG CA LỊCH SỬ DẦU KHÍ.
“Chuyện hôm qua, chuyện ngày nay như dòng đời dài theo năm tháng... Kể làm chi chuyện đã qua, Nhưng từ đâu quá khứ vẫn dội về trong ta”*

*- Trích từ Phim “Chuyện ma làng”

Chuyện buồn, chuyện vui, chuyện cười, chuyện khóc. Bao nhiêu chuyện hư hư, thực thực Cứ dội về một quá khứ vinh quang. Để hôm nay, tuy còn nhiều chuyện ngổn ngang Nhưng ta đã góp sức mình làm giàu cho Tổ quốc.
Từ cái thủa Kitovanhi vẽ bản đồ trên nửa miền đất nước Nguyễn Lạc, Nguyễn Giao nhiệt huyết theo sau. Đất nước hoà bình cần phải tìm dầu Tổng cục ra đời một chín bảy năm lịch sử. Ừ, thuở ấy đất nước còn nghèo quá, Miền võng Hà Thành lấn từng bước nhỏ con. 700m chiều sâu cho một giếng khoan Đến 1200, khoan ven rìa, khô cả! 1700, cần khoan sâu hơn nữa. Không có rồi, cần công nghệ đổi thay. 2400, mong từng tháng, từng ngày Rồi 3200, giếng khoan Tiên Hưng 100 lịch sử. Lòng đất vẫn nằm im. Giếng 102 Xuân Thuỷ 4000 m chiều sâu, cho dòng khí tự phun. Có phải do đất nghèo, hay công nghệ kém hơn? Nên lòng đất lại dỗi hờn, im hẳn. Kiến Xương A, Kiến Xương B, Kiến Xương C, Xuân Trường, Đông quan, dài theo năm tháng.... Để đến ngày Nguyễn Ngọc Cư tắm dầu, giếng 63 trên Tiền Hải, Thái Bình. Cả nước mừng vui, cả đồng bằng bừng lên ánh nắng bình minh Quốc Hội nhận quà, những can dầu, từ tiền phương gửi đến. Đặng Của hối hả mang tin vui chào mừng Đại Hội Đảng Hàng loạt báo ngợi ca, xe Đặng Của tiếp lăn. Nhưng buồn thay lòng đất oái oăm Chưa kịp mừng vui đã buồn tê tái. Dầu lẫn nước quá nhiều Đâu có thành thương mại. Lê Trọng Cán cho rằng do đất chẳng nằm yên Phá huỷ, lún chìm, oằn võng liên miên, đứt gãy trồi lên xiên vào Đệ Tứ. Sevotschianov trầm ngâm khoanh trên bản đồ Xuân Thuỷ: “Khí tản quá nhiều, đâu còn mỏ dưới sâu!” Phan Minh Bích đăm chiêu, tóc đã bạc nửa đầu Nguyễn Ngọc Cư phừng phừng, giật cương phi về nơi Tiền Hải. Khí bất ngờ phun. Sáng một vùng, sáng mãi. Trạm khí ngưng, trạm phát điện mọc lên.

***

Nhớ lại một thời đất nước chiến tranh, Tướng Thiệu phất cờ dựng “Thành 36” Quân tản khắp nơi: Cẩm Giàng, Ông Đình, Chợ Gạo Quang Hạp, Thường San chinh phục An Châu. Tất cả vì dân, vì nước, vì dầu Kẹt một nỗi, đất dưới sâu nghèo quá. Đắc Hoài thu quân dựng “binh đoàn phản xạ” Vũ Bột xây thành khoan tìm kiếm dưới sâu. Ngọc Sớm, Nguyễn Giao: “khoa học phải đi đầu” Lập đoàn chuyên đề 36B lịch sử. Trọng Đảng, Đình Vinh và bao nhà hóa nữa Xây dựng Nhà Thành nghiên cứu chất lưu. Rồi đất nước bình yên, đâu cần giữ quân nhiều, Tướng Thiện dẫn đầu đoàn quân dầu tiến. Phan Tử Quang, Trần Sanh, Hoàng Lộc, Nguyễn Điền... Rầm rập đoàn quân Chói lòa cờ miện Phong toả Nhà Thành, Xuân Thuỷ, Nguyễn Du... “Quân đội hoá toàn ngành, không được chần chừ!” Lớp học công nghệ cao - Lập theo từng tiểu đội. Lấn biển, quai đê, ghép tre thành giàn nổi Khoan xuống đất sâu. Hỏng đã có chuyên gia! Để vượt sông, năm xưa, ta từng ghép thành phà Cho đoàn quân trùng trùng Nam tiến. Nay hoà bình, xây giàn khoan trên biển Đủ sức làm, miễn có chí quyết tâm. Cười nấc trong lòng, song lại suy ngâm Thuở ấy bình yên, đâu như hiện tại “Trời là Đây và đất cũng là Đây”. Muốn dựng Đại Vương cai quản Xứ này Phải kén trí, tài, uy cao như núi. Nhà Thành Hưng Yên một thời sáng chói Hoàng Lộc tâm giầu, Nguyễn Hiệp tài ba, Đắc Hoài uyên thâm mưu dựng Sơn Hà, Dùng trí nước Nga nhằm xây nghiệp lớn. Mấy trận giao tranh, cả một vùng hoả hoạn, Sevotschianov đầu hàng, vĩnh biệt Việt Nam. Đắc Hoài cho rằng dưới lòng đất An Nam Phải có triển vọng lớn, to, đâu như lời Sevots. Nguyễn Hiệp lên cao, Tam trụ Nhà Thành mất đi một cột. Rồi Hoàng Lộc vời về trấn ải Nguyễn Du, “Thiếu tá” Vũ Nhi đảm nhận Bí Thư, “Thượng uý” Trung Điền điều lên Viện Phó. Ngôi sao chiếu Nhà Thành, chắc đến ngày sa số Tôm, tép mất đàn, loạn náo lung tung. Rồi Nguyễn Giao từ Tây về, dương cờ xí một vùng, Đắc Hoài ra đi, nhường Thành cho Nguyễn. Lại được tướng Minh, họ Trương tay gươm tay quyển Xông xáo Bắc - Nam, xây dựng cơ đồ. Chính sách “ khoán mười” Làm tươi lên những mảnh ruộng cằn khô Đã vội vã tràn vào “thành nghiên cứu”. Đồng lương hôm xưa trở thành nhỏ xíu Khép nép đứng nhìn những bọc tiền chia. Xe máy, tủ, gường, quạt điện, ti vi Rộn rã hiện lên sau mỗi kỳ nghiệm thu báo cáo. Người ít, kẻ nhiều - người cười, kẻ mếu Lòng hẹp lại dần, tay luôn dấu sau lưng. Tích gió lâu ngày, bão táp ắt nổi lên Tướng Nguyễn ra đi, tướng Trần thay thế Trình độ uyên thâm, muôn dân vị nể, Ngọc Toản phất cờ, những mong được kiêu binh. Nhưng hỡi ôi! Đình Hợi, Đình Vinh, Hoàng Thạch, Đức Huỳnh... Mấy vụ “khoán mười” đã phải phất cờ, dựng lên luỹ mới. “Đất nước” phân chia, giao lưu kém cỏi Việc ít đi dần, tiền chia cũng ít theo. Cũng tại lầm than, cũng tại đói nghèo Tướng soái vơi dần. Muôn dân than thở. Rồi một hôm Ngôi sao xứ lạ Bay khỏi vương triều, toạ lạc xuống Từ Liêm… Thiên hạ xôn xao, tứ xứ ngạc nhiên, Nghi hoặc khả năng binh đao tướng Vũ? Quả không thẹn với đất trời. Dọc ngang xoay xở, Mở rộng giao bang, xây dựng lại cơ đồ. Song, muôn thuở, muôn đời, cha ông đã dạy cho Muốn đất bình yên, phải nuôi tướng giỏi. Nhớ đến Đắc Hoài, mộng mở mang bờ cõi, Chưa coi dưỡng tướng tài, lại cầu viện Hoàng Phương Rong ruổi ngựa, người qua “hàng vạn” dặm trường, Vận xuất tâm linh đi tìm dầu khí. Trọng Đảng ngày xưa một thời gác bút nghiên của kỹ sư, tiến sĩ, “mời” cả ra đồng cày, cuốc, bón phân. Thông thạo được đâu “nhất nước, nhì phân, tứ giống, tam cần” Lúa xác xơ, phải thuê lại mấy anh chị nông dân mất ruộng.

***

Lại nói đến Nguyễn Điền kiêu binh mộng xây nghiệp lớn Đỗ Hậu mang thuyền chiếm Vật Cách, Quán Toan Giang Thịnh mưu cao hiến kế lược luận bàn: “Chiếm đất Hải Dương, xây thành đắp luỹ”. Bỗng một ngôi sao sa, một tướng tài Nguyễn Trí: “Hướng tới biển Đông, rời Xuân Thuỷ, xây thành luỹ Hải Phòng. Đất liền khô cằn ta đã chiếm xong, Cần vượt biển khơi, mở mang bờ cõi !” Than ôi! Mấy chục năm dân đen, lầm than trôi nổi! Bồng bế, dắt dìu, từ Chợ Gạo, Hưng Yên Nuôi cá, trồng ngô, túng thiếu liên miên, Quấn thuốc bán thêm bù tiền mua gạo. Nhớ mãi không quên một thời tem phiếu Đạm độn thay ngô, lốp phân phối treo tường...

***

Lại nói Nguyễn Điền sau bại chiến Hải Dương Cách chức Cường Binh, bắt về làm đại quan cho Trần Thụ. “Hướng tới biển Đông” Nguyễn Điền tự nhủ Mở rộng giang sơn, xây thành luỹ Hải Phòng, Đóng tàu Bình Minh làm địa chấn biển Đông, Phái cử Đức Uy dẫn đường xuyên biển rộng. Nhưng tuổi đã cao, chinh chiến bao năm, dãi dầu gió sóng, Giao lại Giang Sơn cho Đăng Liệu nắm quyền. Chí Hiếu chạnh lòng ngồi đứng chẳng yên Quật ngựa, giật cương phi về phía Thái Bình cùng Nguyễn Cư dựng nước.

***

Đăng Liệu rậm râu, mắt to, người cao tám thước Du học bên Tây, mưu lược hơn người. Đứng trước ba quân, rợp cờ xí đỏ tươi: “Làm địa chấn biển Đông, đo đạc vệ tinh, thả khoan lấy mẫu, Mở rộng giao bang, mở nơi neo đậu, Thuê tàu lớn ngoại bang Poisk, Iskachel để khảo sát biển Đông Bản doanh của ta đâu chỉ có Hải Phòng. Cần phải tiến tới Đà Nẵng, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Phan Rang, Phan Thiết!”

***

Nhớ lại một thời Lê Khoản, Tăng Mười, Phan Minh, Nguyễn Hiệp Cát cứ từng vùng theo phương pháp dò thăm, Vẽ dáng mũi nhô, vẽ thế đất nằm, Tìm hướng dầu đi, tìm nơi dầu tụ. Miền võng Hà Thành sườn nghiêng bé nhỏ Bóc từng mảng thời gian, từng biến cố chôn vùi. Ngọc Toản từ chốn giảng đường Say sườn nghiêng Hà Thành về thay thế Tăng Mười. Rồi Hồ Đắc Hoài, Trương Minh, Đỗ Lưu, Trí Liễn... Danh sách cứ bổ sung, đoàn quân phát triển Hải Dương, Thái Bình, Hà, Lạng, Hưng Yên Còn in mãi, không quên Dấu chân đoàn quân lật thời gian chôn vùi của đất. Ừ, cái thuở cơm đâu đủ ăn, áo đâu đủ mặc Mà vẫn cười vẫn hát với thời gian. Mưa, rét căm căm, vác dây lội dọc cánh đồng làng, Mướt mát mồ hôi quay tay, khoan sâu từng mét. Tất cả vì dân, vì đời, vì đất, Vì tiếng hát trẻ thơ, vì nước Việt muôn đời. Để hôm nay với binh đoàn hùng mạnh giữa biển khơi Đâu quên được những ngày cha ông gian khổ.

***

Lại nói đến Hải Phòng một thời rạng rỡ, Phong toả biển Đông, án ngữ tận Cà Mau, Địa chất công trình, Định vị, Phản xạ chung một điểm sâu, Củng cố luỹ thành Ba Lạt, Phà Rừng, Phan Rang, Phan Thiết. Rồi Đăng Liệu về triều, Đỗ Hậu lên thay.
Thời gian tiếp trôi, sức tiếp mòn, “tài nguyên” tiếp kiệt, Công nghệ đổi thay, người dư lớn thêm dần. Nhiều phụ nữ “chân chì” phải rời khỏi trăm quân, Nhiều bác già nua phải lui về hưu trí. Chùa Vẽ, Phà Rừng, Hưng Yên, Xuân Thuỷ Chồng vợ tán ly lật đật long đong. Tương truyền rằng vào một đêm chớp bỗng xé phía Đông Rồi một ngôi sao sa nơi Chùa Vẽ, Xuân Nhậm mày ngài, mặt vuông, thân hình chắc khoẻ Tay chém vào khoảng không: “Cần chuyển dịch hướng đi” Trần Thụ, Quang Thường, Thọ Mạnh, Đức Uy, Văn Kha, Đỗ Vinh, Danh Ngôn, Sách Trọng... Cờ hiệu rợp trời, chiêng trống lay Sơn.

***

Nhớ lại cái thời quai đê, lấp biển, dời non Luyện trí quyết tâm đi tìm dầu khí. Nhiều “lều” Trạng nguyên, Cử nhân, Tiến sĩ Được mời tới miền Thái Bình, Xuân Thuỷ, Hưng Yên. Khoan cả rồi! Tiền Hải, Kiến Xương, Đông Quan, Phù Cừ, Thái Thụy, Cồn Đen Giếng khoan 110, khô, nơi mặt tiền Châu thổ. Bỗng một hôm sao Thái Dương rực tỏ Chiếu hướng Nguyễn Du báo cát, vượng, tài. Lê Cự mộng rằng có một chốn bồng lai Nơi biển khơi xa đã tìm ra dầu khí. Mấy đận mặt trời lên Lục sử, tìm kinh, đăm chiêu suy nghĩ: “Thềm lục địa phía Nam, nơi Mỹ đã thăm dò”. Đức Thiện, Tử Quang, Ngọc Sớm, Quang Trung, Thường San ... Rầm rập biển cờ Ào ạt ngày đêm tiến thẳng phía Nam Chiếm 7 Mạc Đĩnh Chi Chiếm trường Thiếu Sinh Quân Chiếm Thành Hoàng Diệu. Bản đồ biển khơi ngang dọc kẻ ô phân chia thành lô tiểu Mời các hãng ngoại bang vào đóng bạc đấu thầu. Đơ-Mi-Nêck, Azip, Bô-Vơ-Lei từ mãi mạn Mỹ, Âu Xuyên thẳng biển khơi, Đan thêm tuyến thăm dò, Đặt tàu khoan tìm kiếm. Quân của Đắc Hoài, Ngọc Cư, Nguyễn Điền, Trí Liễn Rầm rập “vượt biên” Những mong được thay da. Lô 11, 12, 28, 29, 04, 15B, 15G, 15A... Mãng cầu, Thông, Cau, Dừa...đều được khoan qua cả. Phi trường Sài Thành lập Trung tâm Xử lý Quan đô đốc Hà Quốc Quân, Trần Đức Chính phất cờ xí dựng Thành. Phân Viện phía Nam, Đắc Hoài truyền ba quân cần phải triển khai nhanh Lệnh cho vượt biển Đông ngày đêm chuyên chở. 7 Mạc đĩnh Chi, được truyền làm trụ sở Phạm Quang Dự, Trần Lê Đông dựng biển hiệu lập thành.

***

Đất nước bấy giờ vừa qua khỏi chiến tranh Còn thiếu thốn, còn bộn bề dang dở Đâu quên được cảnh ngăn sông cấm chợ Ký gạo mua về có thoát trạm Cỏ May ? Xe đạp mua cho con đạp bộ suốt đêm ngày Để tránh trạm kiểm tra đặt ngay biên giới tỉnh. Gạo thiếu nồi cơm độn thêm khoai, thêm sắn Canh nấu rau dền chan ngập hạt bo bo. Vì đất ta nghèo ta đâu dám đắn đo Xưa vì Đất - bao cha, anh nằm xuống. Nhưng có lúc đời cho ta suy ngẫm Cái dốt, cái nghèo luôn song hiện bên nhau. Đến hôm nay tuy Đất đã đổi màu Nhưng còn lắm cái tôi trong Đất Lịch sử đâu quên Phan Tử Quang, Phan Minh Bích Nguyễn Hiệp, Trần Xanh, Hoàng Lộc, Nguyễn Điền... Những con người thật như ngày tiếp nối sau đêm Đã nhiệt huyết góp sức mình dựng xây ngành Dầu khí.

***

Lại nhớ thời Lê Văn Cự kiêu binh xây thành đắp luỹ Cùng Trương Thiên lập công ty Dầu khí Nam Việt Nam. Đặt Đại Bản Doanh tại 27,28 - Quận1, Bạch Đằng, Sau địa thế bất hoà rời chuyển tới 7 Mạc Đỉnh Chi trấn thủ, Lấy tìm kiếm, thăm dò vàng đen phần phía Nam làm nhiệm vụ. Qua ba mùa mai nở, lớn thành Công ty Dầu khí số 2.
“Chinh phục” miền Tây phái cử tướng tài Lập đoàn 22 thăm dò vật lý. Ròng rã mấy năm ba quân tướng sĩ Khảo sát trọn miền Tây giương cờ xí toàn vùng. Giếng tìm kiếm đầu tiên mang tên đất Cửu Long Xuyên xuống địa hào sâu 2348 mét. Giếng tìm kiếm thứ hai mang tên Phụng Hiệp Gặp đới nhô cao, 813 mét, phải dừng. Địa hào chôn sâu từ đứt gãy Sài Gòn Tới đứt gãy Hậu Giang, kéo dài ra biển. Mấy chục triệu năm chôn vùi, biến chuyển Đón dòng hydrocacbua từ phía biển khơi xa. Lịch sử dò thăm có nhiều chuyện bất ngờ, Ai biết được khả năng chứa vàng đen của thềm nâng Trước Đệ Tam trải dài bên cạnh ? Tháp Mười mênh mông cò bay mỏi cánh Mãi in dấu chân anh, người lính thăm dò Bước chân anh sải dài từ Long Toàn, Trà vinh, Minh Hải, Mỹ Tho ... Những mong Đất phải trở mình vì Đất. Dẫu hôm nay vàng đen còn đó đây lẩn khuất. Nhưng chắc chắn có ngày bừng sáng rực Cửu Long.

***

Để khảo sát thăm dò vùng rộng lớn biển Đông Lập đoàn dò thăm mang tên 21. Tiến cử Quang Trung nghĩa binh chiêu nạp Thu thập sử kinh từ vĩ tuyến 13. Chọn làng Thương Phế Binh làm thủ phủ sơn hà Cử Đoàn Thiên Tích viết tổng kinh “Cấu trúc địa chất bể Cửu Long và ven rìa” trình báo.
Thềm lục địa phía Nam được chia thành 60 lô tiểu Mỗi hãng ngoại bang được phê chiếu một vùng. Riêng có lô số 9 mênh mông để tự lực, để dưỡng nuôi đoàn quân tìm vàng đen cho Tổ quốc. Công ty GECO ở mãi miền Âu lục Được phê chiếu cho tàu làm địa chấn Cửu Long, Mở rộng, đan dày toàn bộ dải nước nông Từ Minh Hải kéo ngược lên Phan Thiết. Xưa Mandrel đã cho tàu đan các tuyến thăm dò khu vực Nay bổ sung những mong được tỏ hơn, Cùng tàu thăm dò Poisk, Iskachel Lật toàn bộ lớp trầm tích bể Cửu Long, thềm nước nông theo thời gian thành tạo. Thiên nhiên tặng cho ta kho tài nguyên quý báu Đã một thời như chú voi khổng lồ các nước Ả Rập tựa con tem. Rồi Lê Văn Cự về Triều, Nguyễn Ngọc Sớm lên Trụ sở Công ty 2 đặt nơi Hoàng Diệu. Quân tản đóng khắp nơi một thời nghèo thiếu Làng Thương Phế Binh, Trương Định, Mai Anh... Hộp sữa được phân cất kín để dành Bán góp cho con chiếc quần đi học. Mỗi đận về quê mua nào khoai, nào bột, Nào tỏi, nào trà, nào thuốc lá sợi khô ... Vào bán kiếm lời cho chiếc vé đi ra Đột suất mẹ đau, vợ con bất trắc. Thấm thoắt 5 năm một công trình tổng kết
“Cấu tạo địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa phía Nam” được hoàn thành do tổng chỉ huy - nhà địa chất Ngô Thường San, và “Địa tầng trầm tích Kainozoi thềm lục địa phía Nam” do Võ Dương và nhiều người tham dự. Rồi “Lịch sử phát triển địa chất vùng Thuận Hải-Minh Hải” của Đắc Hoài, Trần Lê Đông, Hoàng Quý, Lê Đình Thám, Lê Văn Cự Đến Kazmenko, Nguyễn Trí Liễn với “Nhiệm vụ công tác địa vật lý thăm dò” Thềm lục địa phía Nam hiện lên như một giấc mơ Với dải nâng Côn Sơn vươn cao sừng sững, Và bể trầm tích Cửu Long, tầng sinh vàng đen vô tận Bị chôn vùi bốn, năm chục triệu năm Có dãy núi già vươn giữa Trung Tâm Với tầng sét đen phủ toàn bồn trũng. Các hoạt động kiến tạo xưa vào thời Mioxen trung đã hoàn toàn ổn định Khiến các bẫy dầu không bị tản xa. Lại nghe đồn rằng ở mạn Philipin và Indonexia Đã tìm ra mỏ dầu ở Bocneo, Sumatra, Sarawak. Trũng Nam Côn Sơn nằm cùng miền địa chất Chắc tụ hội đầy các điều kiện chắn, sinh. 5, 6 năm trôi qua, đất nước hoà bình Tướng Thiện chuyển đi, Tướng Hòa “khai quốc”. Có câu chuyện man mát buồn nhưng đó là sự thực “Đất nước tôi nghèo nên làm trước, nghiên cứu sau”,
“Các nước phương Tây muốn hợp tác cần phải làm cho chúng tôi giầu”.

***

Nhớ lại đận Xuân Nhậm kiêu binh phất cờ khua trống Khai lập PTSC ôm mộng “bá quyền” Làm địa chấn biển Đông, định vị vệ tinh, sửa chữa tàu thuyền Chinh phục đảo Bạch Long, Thổ Chu, Phú Quốc. Dịch vụ khoan sâu, cung cấp người, cung cấp nước cung cấp vật tư, cung cấp “quân” lương. Làm địa chấn công trình, vận chuyển biển, vận chuyển sông Xây dựng kho xăng, mở nơi buôn bán. Mấy năm trôi qua nhàn cư vi, quân binh tản mạn Bận bịu di dời lỏng lẻo kỷ cương. Cha ông dạy cho thực túc binh cường Nhưng không được để pháp cương lơi trị.
Buổi thiết triều mùa đông năm Kỷ Tỵ Xuân Nhậm cho vời bô lão của trăm quân. Những tưởng thất thời bi chán muôn phần Được tham kiến nhiều bô quân rơi lệ. Bẩm tâu rằng pháp cương đã bấy lâu bê trễ Lơi lỏng luyện rèn, lơi lỏng kiểm tra Sớm sớm cuối tuần đã tranh thủ về nhà Chiều chiều thứ hai có người lẻn đến. Nghe đồn rằng có chiến binh thường đến muộn giờ làm vì mải buôn thịt lợn Kẻ buôn cá về quê, người - thuốc cuộn - Hải Thành. Xuân Nhậm đập bàn cần phải chấn chỉnh nhanh Thắt chặt kỷ cương, giảm thanh “quân” ngũ.
Lại thêm một lần phụ nữ “chân chì” cho về nội trợ Quân sĩ già nua lĩnh bạc nghỉ hưu. Các tướng tài trí sĩ tú ưu Thọ Mạnh, Quang Thường, Văn Kha, Sách Trọng ... Được bổ nhiệm cùng nới rộng quyền uy. Sắp xếp lại ba quân, phân chia đất trị vì Mở lớp luyện “đao” gửi đi luyện “kiếm”. Nghe đồn rằng đã từng lưu câu chuyện Canh ngọ, đêm rằm Bụt dạy Nhậm trong mơ: “Bạch Đằng năm xưa Ngô Quyền đã phất cờ đánh tan giặc dựa thế sông hiểm trở. Sâu trong đất là thế ngăn sóng gió Thông ra biển khơi là thế mở, giao lưu. Đà Nẵng - miền Trung thế tiền vệ Vương Triều Thái Bình - Đông Đô - Thế hậu phương vững chắc”. Bừng tỉnh dậy như mình vơ được ngọc Trong buổi thiết triều Xuân Nhậm cả vui. Lệnh cho Danh Ngôn Tập hợp ngựa người Tái thiết Phà Rừng Dựng nơi sửa, dưỡng. Tàu thuyền bốn phương Từ đây xuất xưởng Phục vụ khoan sâu, Lưu chuyển Bắc Nam. Minh Đức tứ phương Núi đá trập trùng Giáp ranh Quảng Yên Đường thông Thành Cảng. Sông sâu lòng thoáng Hướng tới biển khơi, Phong thuỷ tuyệt vời Đúng nơi khí tụ. Lại lệnh cho Nguyễn Mậu cùng sĩ mưu Phạm Tú với hai vạn chiến binh hỗ trợ Danh Ngôn. Rầm rập ngựa người cuồn cuộn như tuôn Đổ tới Phà Rừng từ biển lên, từ Thuỷ Nguyên tràn xuống. Song cùng chinh phục Phà Rừng, Nguyễn Nhậm lại cử hai chiến binh cải trang buôn lợn Thăm kiếm khắp Thái Bình, Tiền Hải, Vũ thư. Rồi cho lục sử sao kinh tổng kết 25 năm tìm kiếm thăm dò Nhằm đánh giá lại tài nguyên lòng đất. Quả không phụ bởi đất trời ngày đêm chật vật Miền võng Hà Thành nhiều khí, lắm nước thiên nhiên. Tướng Điềm được chuẩn phê chuẩn bị mấy ngày đêm Dẫn một cánh quân vượt sông Trà Lý. Lại sai một cánh quân chiếm phà Tân Đệ Tiến đến cầu Bo chặn hướng Hải Phòng, Cổ Lễ, Lạc Quần Vào tới Thái Bình như chỗ không quân Lệnh cho khoan sâu tìm nguồn nước khoáng Xây dựng Đại Bản Doanh – Xí nghiệp nước khoáng Tiền Hải, Thái Bình. Lại cử các thân thần, mưu sĩ, minh binh Dựng hoạch định sử dụng khí nung vôi, làm sứ. Thái Bình - Tân Đô sáng bừng lên rực rỡ Nhà máy điện, nhà máy phân, xí nghiệp sứ, xí nghiệp nung vôi ... Nước khoáng Thái Bình vỗ cánh tung bay khắp phương trời.

***

Nhớ lại lời tiên tri một đêm năm Canh Ngọ Xuân Nhậm cho vời Sách Trọng tiến cung : “Thái Bình, Phà Rừng ta đã chiếm xong Nay Đã Nẵng cần tiến binh dựng luỹ” Sách Trọng dẫn đầu 35 ngàn binh sĩ Phần vượt biển khơi, phần tiến phía Hải Vân Rầm rập ngựa thuyền như tựa sóng thần Tràn ngập bán đảo Sơn Trà, Vũng Đà Thành và Hàn Giang cửa khẩu. Đúng như lời tiên tri mộng báo Đà Nẵng muôn đời giữ vị thế tiền tiêu Sơn Trà vươn cao ôm cảng nước sâu Tạo vũng bình yên thuyền tàu neo đậu. Hàn Giang cửa khẩu thông với vùng cao Chặn hướng Bắc vào, Nam ra, Đông đến.
Xuân Nhậm cả cười lệnh cho ba quân khua trống, đắp thành, treo cờ, trương biển Xây dựng Đại bản doanh cạnh bến sông Hàn. Nghe đồn rằng: giữa lúc ngựa người sau chiến thắng hân hoan Tướng Trần Thụ phi ngựa suốt ngày đêm từ Kinh Đô cấp báo: “Thềm lục địa miền Trung được phân nhiều lô tiểu Một số hãng Tây Âu đã đệ đơn xin tham khảo sử kinh. Trong tương lai gần nếu tìm kiếm đạt thành Hàng loạt mỏ mọc lên, nhiều công trình xuất hiện” Xuân Nhậm đăm chiêu gật đầu suy ngẫm: “Đà Nẵng quả là đất chọn của Tiên Tri. Nay phái cử tướng tài Bùi Thọ Mạnh trị vì, Xây dựng xưởng kho tàu thuyền sửa dưỡng”. Lại lệnh cho dựng thêm nhà hàng khách sạn Và đại lý xăng dầu phân tản khắp Trung Đô. Đà nẵng nhộn nhịp lên, cả Thành Phố đợi chờ Biển thức dậy, cả Quảng - Đà bừng sáng.