Vân Phương

Trước khi đến gặp ông Bùi Đức Thiệu, tôi ngồi cà kê chuyện phiếm với nhà thơ Phạm Văn Đoan trong văn phòng của ông ở trạm liên lạc của Tổng công ty dầu khí Việt Nam tại thành phố Vũng Tầu. Nhà thơ đang còn phải chống nạng vì một tai nạn xe máy, nhưng vẫn rất hào hứng nói về ngành dầu khí cho những kẻ ngoại đạo như tôi. Lúc còn ở Hà Nội có người rỉ tai tôi: Muốn hiểu về dầu khí không thể không qua lão Đoan. Nay thì tôi thấy lời đồn quả không sai. Nhiều năm gắn bó với ngành, lại là một người viết nên ông không chỉ nhớ từng sự kiện lớn, mà hầu như thuộc tính thuộc nết từng vị lãnh đạo mà ông đã tiếp xúc, cả già lẫn trẻ, cả đang chức cũng như đã về hưu. Ông đúng là một con ma xó. Có thể ai đó không thích cái sự biết nhiều ấy của ông. Nhưng với tôi thì gặp ông đúng là gặp may. Tôi bám riết lấy ông Đoan, tìm mọi cách gợi chuyện để ông nói. Trong câu chuyện, tôi tiện thể nói luôn về nhân vật mà tôi sắp gặp để viết một bài ký chân dung. Ông Đoan trầm hẳn xuống, một biểu hiện trái với tính tình sôi nổi và thích hài hước của ông. Mãi sau ông mới bảo: Tưởng ai, chứ ông Bùi Đức Thiệu thì tôi rất hiểu. Cũng là một số phận đủ thăng trầm.

Như chợt nghĩ ra, ông Đoan bảo thêm: Bố già ấy nóng tính lắm, nhưng đấy là một con người cực kỳ trung thực.

Chiều hôm ấy, giữ đúng lời hứa, ông Đoan lại tập tễnh chống nạng trèo lên xe dẫn đường cho chúng

Bùi Đức Thiệu, năm sinh 1928, quê quán: Hành Phước - Nghĩa Hành - Quảng Ngãi,  nguyên Đoàn trưởng, phó bí thư Đảng ủy Đoàn địa vật lý 36, Phó giám đốc công ty I , Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Chiến sỹ thi đua toàn quốc 1961.

tôi đến gặp ông Thiệu tại nhà riêng. Có lẽ đó là một trong những căn nhà khiêm tốn nhất của thành phố Vũng Tầu ngày càng hoa lệ. Nó nằm trong một ngõ hẻm, lại thuộc vùng ''heo hút'' của thành phố biển đang được ví như Singapọre. Từ trong nhà bước ra là một ông già ăn mặc rất đơn giản và cứ nhìn chúng tôi mà không sao nói được. Tôi đoán ngay ra là có thể đã lâu rồi ông ít có những dịp được nhiều người đến thăm như vậy. Ngay lập tức tôi bị cặp mắt của ông ám ảnh. Rõ ràng là trong vẻ ngạc nhiên của ông ẩn chứa theo cả một niềm xúc động sâu sắc. Một người già cả, tính cách mạnh mẽ, sống ngang tàng lại khái tính như ông (tất cả những điều này đều có thể nhận thấy ở ông ngay từ lần đầu tiếp xúc) mà phải lặng người đi khiến tất cả chúng tôi đều cảm thấy như mình có lỗi. Ông chỉ tay mời chúng tôi vào nhà bằng một vẻ mặt hơi ngượng ngập. Hoá ra vì ông không có đủ ghế để mời khách ngồi. Đúng là bên ngoài căn nhà thế nào thì bên trong thế ấy. Chẳng có bất cứ thứ đồ đạc gì sang trọng. Tất cả chỉ đủ toát lên một cuộc sống tằn tiện và khép mình của chủ nhân.

Dường như từ lâu rồi ông không quan tâm đến việc gì khác ngoài việc gói ghém chặt thêm những kỷ niệm, nhét thật sâu xuống đáy ký ức, những kỷ niệm mà rồi bạn đọc sẽ thấy nó có thể làm trái tim đau đớn như thế nào. Phải mất một lúc lâu thống thiết trình bày tôi mới thu hút được sự chú ý của ông để hiểu lý do vì sao tôi từ Hà Nội lặn lội vào đây. Nhưng tôi phải mất một khoảng thời gian lâu hơn nhiều để im lặng ngắm ông trong tâm trạng của người đã gần đi hết con đường mình phải đi, từ lâu bỏ ngoài tai mọi sự đời và tưởng không còn bị quấy rầy, vậy mà nay có kẻ muốn thóc mách cả những chuyện mà ông đã chôn xuống tận đáy lòng và sẽ mang theo về thế giới bên kia. Ông nhìn tôi bằng ánh mắt lạ lắm. Ông nhìn tôi như thể muốn biết thực chất tôi là ai và cần những điều ông kể để làm gì. Có thể ông thấy tôi như một gã ranh con hiếu sự, rách việc. Hoặc có thể ông cũng cần có một người để chia sẻ gánh nặng khiến tâm hồn ông luôn trĩu xuống. Tôi chợt nhớ đến một câu của nhà văn Nga: “Tâm hồn con người ta nặng gấp trăm lần thể xác. Nó nặng đến nỗi một người không sao mang nổi”. Phải chăng điều đó đang được chứng nghiệm nơi ông. Và tôi cũng chẳng biết làm gì hơn là chờ cho cảm xúc của ông lắng xuống. Mãi lâu sau ông mới bảo:

- Việc có nên kể cho anh nghe hay không có lẽ không quan trọng bằng việc kể cái gì và tôi nên bắt đầu từ đâu.

Tôi đùa cốt để lấy không khí:

- Thì bác cứ coi như đang kể với bác gái ấy, bắt đầu từ đâu mà chả được, chẳng hạn từ ngay vụ cụ tục huyền với ái thê bây giờ.

Tôi muốn làm bầu không khí nhẹ bớt, kéo ông già ra khỏi những hoài niệm nặng nề. Ai ngờ lời tôi đã chạm vào một trong những nỗi đau của ông. Ông quắc mắt nhìn tôi nhưng rồi bỗng thở dài. Và tôi đồ rằng có thể chuyện riêng tư chẳng dễ nói ra một chút nào.

Ông quê ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, xuất thân nông dân chính hiệu. Thời trẻ ông là một lực điền, chỉ biết lấy sức kiếm cơm. Mới 15 tuổi nhưng ông cày khoẻ hơn một người lớn vì thế được nhiều nhà giầu thuê mướn. Bước ngoặt cuộc đời ông xảy ra vào năm 17 tuổi, khi vào một buổi ông đang cày thuê thì thay mọi người hô hào nhau đi cướp chính quyền. Chỉ quen bị áp bức, làm thuê trên đất của người khác, nay nghe nói chính quyền mới sẽ thuộc về nhân dân, tức là những người như ông sẽ được làm chủ. Thế là ông theo với hy vọng rồi đây được cày trên chính mảnh ruộng của mình. Mọi việc diễn ra nhanh gọn ngoài sức tưởng tượng của ông.

Chính quyền non trẻ bề bộn công việc, lại toàn những việc cũng vô cùng mới mẻ. Ai có thể làm gì thì trổ hết khả năng ra mà làm. Ông khỏe mạnh, nhanh nhẹn, lại đã học hết bổ túc văn hoá lớp bảy- một trình độ học vấn không xoàng hồi ấy- thì được cử đi học cách làm giấy để trở thành công nhân. Mặc dù chỉ học trong sáu tháng nhưng vì thông minh nên khi về nhà máy giấy, ông có thể làm được từ khâu đầu đến khâu cuối. Thấy ông năng nổ, không nề hà bất cứ công việc gì, lại thẳng tính nên mọi người cử ông vào làm công đoàn, rồi sau lên ban thường vụ công đoàn. Thế là có duyên làm cán bộ từ đấy. Sau khi hiệp định đình chiến được ký kết, đất nước tạm thời bị chia cắt, ông nằm trong diện phải đi tập kết.

Ông lên tầu Ba Lan khi đứa con đầu mới chết đuối, còn đứa thứ hai, sau này ông mới biết là gái, vẫn đang trong bụng mẹ. Ông chưa hình dung được chuyến đi ấy sẽ dẫn cuộc đời ông tới đâu. Chỉ nghe nói đó cũng là nhiệm vụ cách mạng, mà nhiệm vụ cách mạng thì không thể cưỡng lại. Thực lòng ông nghĩ đi tập kết cũng giống như đi công tác một chuyến công tác dài ngày ra đất Bắc. Như bao người khác, ông tin rằng quá lắm là ba năm sau ông sẽ lại được trở về. Vì thế ông chẳng chuẩn bị gì nhiều cho bản thân, chẳng nghĩ ngợi gì nhiều khi lao vào những công việc mới. Người ta cử ông đi học lớp chính trị ở khu Học xá thì ông đi. Tại đấy ông nghe những cán bộ mà ông tưởng có mơ cũng không được gặp, nói về những vấn đề của đất nước và thế giới, phe ta phe địch, của hiện tại và tương lai... Lòng phới phới như một cậu bé, ông nhập tâm rất nhanh những gì nghe giảng. Học xong ông được đưa về Vụ tổ chức Bộ công nghiệp nặng, xuống dạy môn duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ở một trường trung cấp. Ông chẳng bao giờ nghĩ từ một thằng bé chăn trâu, một tá điền thất học lại có ngày mình được đứng trên bục giảng nói về những điều sâu xa đến thế, trước hàng trăm người trẻ tuổi đang háo hức nuốt từng lời. Ông biết sao nói vậy. Kiến thức không nhiều nhưng tinh thần cách mạng thì có thể hun đốt tâm can người khác. Giọng Quảng Ngãi của ông khó nghe nên học sinh cứ phải căng tai ra trước những lời thầy giảng. Thoạt đầu ông tưởng họ chăm chú vì bị hấp dẫn bởi nhũng điều ông trình bày. Nhưng ông bỗng linh cảm thấy trong vẻ im lặng kia có điều gì khác thường. Ông bèn cho gọi một nữ sinh viên lên, chỉ yêu cầu cô ta nhắc lại những gì ông vừa nói. Cô học trò sợ tái xanh tái xám, khóc dở mếu dở im thin thít. Ông phải ngọt nhạt dỗ dành cô học trò mới dám nói thật. Cô bảo rằng cô và mọi người không làm sao nghe được những lời thầy giảng. Nói xong thì cô học trò oà khóc. Ngay sau đó ông xin thôi dạy học. Ông là thế, không bao giờ làm khó cho người khác. Thôi dạy học thì ông đi học tiếp, trước hết là làm xong cái bằng lớp 10 bổ túc. Sau đó học tiếp chuyên môn. Lần này ông học về quản lý xí nghiệp do giáo viên Trung Quốc dạy. Con đường hoạn lộ đầy kiêu hùng nhưng cũng lắm trắc trở của ông bắt đầu từ đây. Và cũng từ đây ông nhập vào danh sách những vị tiền bối của ngành dầu - khí sau này.

Đó là khi ông về làm đoàn phó Đoàn địa chất số 2 Uông Bí với nhiệm vụ thăm dò than, nhưng chưa kịp ấm chỗ thì chuyển sang làm đoàn trưởng Đoàn địa chất 36 chuyên về thăm dò địa chất dầu khí do một cú gẩy tay nào đó của số phận. Sau này Đoàn địa chất 36 phát triển lên thành Liên đoàn. Ông đoàn trưởng Đoàn 36 được thăng lên Liên đoàn phó không có Liên đoàn trưởng. Thế là một tay ông phải với ra năm, bảy chỗ. Trong lịch sử đầy vinh quang của ngành dầu khí nước nhà, đây là thời kỳ tiền thân khởi nghiệp, đặt nền móng. Không có thời kỳ âm thầm này sẽ không thể có sự tự tin để vượt lên giai đoạn sau. Nhiều thành tựu nghiên cứu lúc bấy giờ đã trở thành cơ sở, nền tảng lý thuyết cho những nghiên cứu thăm dò tiếp theo. Nhưng những thành tựu kỹ thuật quan trọng ấy vẫn không thể sánh với những thành tựu về con người. Một thế hệ làm dầu khí, những hạt giống vàng của đất nước đã trưởng thành từ những đoàn cán bộ địa chất lang thang đi tìm tài nguyên cho đất nước. Danh sách đó khó mà kể ra hết được. Phần nhiều trong số họ được đào tạo bài bản. Số còn lại thì tự học, !ấy nhiệt tình cách mạng và tình yêu tổ quốc làm động lực để vượt qua những rào cản về kiến thức. Ông Bùi Đức Thiệu là một trong những người như vậy. Giờ đây khi ngồi kể lại cho tôi nghe, đôi lúc ông vẫn cảm thấy như mình đang sống với không khí thời kỳ trai trẻ. Đó là những năm tháng không thể nào quên được với bất cứ cuộc đời nào. Cơ quan của Liên đoàn thì chuyển hết nơi này đến nơi khác. Lúc đầu ở Hà Nội, sau vì chiến tranh phá hoại và yêu cầu công việc phải chuyển về Bắc Ninh, rồi Hưng Yên. Không có điện thoại nên việc chỉ huy phải bằng vô tuyến. Các bộ phận nhỏ thì nằm rải rác suốt cả một vùng Tây Bắc, Việt Bắc, châu thổ sông Hồng, kéo dài vào đến bắc vĩ tuyến 17. Đại bộ phận đóng ở những vùng heo hút, nhiều nơi chỉ có thể liên lạc bằng cách đến trực tiếp. Ông muốn tự an ủi anh em tại các nơi đó còn khổ hơn ông rất nhiều. Họ cần một sự động viên đôi khi còn hơn cả những cân gạo, muối, thịt tiếp tế. Vì vậy ông tìm cách đến với họ bất cứ lúc nào, bằng đủ loại phương tiện. Trên chiếc Gat do ông tự lái, thêm một phiên dịch, một bảo vệ, ông lang thang khắp đó đây trong đói khát, muỗi vắt và những cơn sốt vàng da. Nhiều phen máy bay địch đuổi ngay trên đầu. Nhiều phen thoát cơn lũ quét trong gang tấc. Đến đâu làm lán trại tại đó. Có những chỗ tất cả nhà ở, nhà làm việc cho đến bếp nấu ăn đều phải làm chìm dưới đất để tránh bom. Vất vả nhất vẫn là công tác đảm bảo an toàn tính mạng cho những chuyên gia Liên Xô. Vì tinh thần quốc tế mà họ rời quê hương, gia đình đến đồng cam cộng khổ với những người như ông. Nếu phải hy sinh tính mạng mình để họ an toàn, ông cũng không ngại. Giờ đây ông tự hào rằng, mặc dù quân số có lúc tới 5000 người, lại phân tán trên một diện rộng nhưng chỉ duy nhất có một trường hợp bị chết do vô kỷ luật. Anh chàng này bỏ về nhà không xin phép và khi xuống đò Triều Dương thì trúng bom Mỹ. Cái chết của người anh em cấp dưới ấy còn ám ảnh ông nhiều năm sau này.

Công việc cứ thế cuốn ông đi. Chỉ những khi đêm xuống, nhất là vào tiết trời trở lạnh, nằm nghe mưa rừng trong nỗi buồn lạnh buốt tim gan, ông mới sống cho riêng mình. Ông thèm khát được thấy mặt đứa con gái mà ông luôn hình dung nó xinh đẹp, hiền hậu. Ông thèm một sự chăm sóc bình dị của người vợ những khi mỏi mệt, đau yếu. Nhưng chẳng biết đến bao giờ cuộc chiến thảm khốc mới chấm dứt. Thời gian ba năm để thống nhất đất nước đã trôi qua gấp nhiều lần nhưng ngày trở về của ông vẫn xa vời vợi. Phần lớn những người cùng tập kết với ông đều tìm cách này cách khác để chứng minh mình đã ly dị vợ, hoặc vợ bị chết và nhờ thế họ được phép lập gia đình. Riêng ông không làm như vậy. Chẳng có ai đứng ra chứng nhận cho ông, chỉ là một phần của lý do. Lý do khác là ông không muốn người khác nghĩ sai về mình, nhất là tổ chức Đảng, nơi ông chấp hành y như một người lính trước mệnh lệnh. Nhưng lý do sâu xa hơn là ông không nỡ làm tan vỡ một trái tim nếu nó vẫn ngày đêm hướng về ông. Tình vợ chồng đã quá sâu nặng khiến ông không thể làm bất cứ điều gì khiến nó tổn thương. Ông luôn giả định vợ ông vẫn một niềm trông đợi ngày ông trở về để đứng vững mỗi khi con tim yếu đuối trước một ánh mắt, một cử chỉ chăm sóc ân cẩn nào đó. Mọi tin tức đều bị cắt đứt nên chẳng thể khẳng định chắc chắn được bất cứ điều gì. Và cứ thế thời gian trôi vèo qua hai mươi mốt năm, khoảng thời gian đủ để tạo ra một thế hệ mới. Hai mươi mốt năm, ngay cả ông cũng bàng hoàng không tin nổi. Và hai mươi mốt năm dằng dặc ấy có không biết bao nhiêu đêm ông thức trắng vì nhớ nhà, nhớ quê hương, đồng đội Và rồi ông vẫn cứ chỉ là ông, âm thầm vò võ một mình, lấy công việc làm niềm vui và cũng là để quên đi  nỗi đau lòng. Chỉ nhờ vào công việc mà ông vượt qua những giây phút giá mà chết đi được lại chính là hạnh phúc. Cũng may là thỉnh thoảng có những sự kiện khiến trái tim ông như hồi sinh. Chẳng hạn đó là ngày dòng khí phụt lên từ mũi khoan thăm dò tại huyện Tiền Hải, Thái Bình. Bao nhiêu là chờ đợi, thất vọng, rồi lại phập phồng hy vọng, rồi lại thất vọng, có lúc đến mức tuyệt vọng, cuối cùng cũng đã có cơ sở để tin vào việc mình làm bấy lâu nay không phải giống như dã tràng xe cát. Ông không thể quên được giây phút nhớ đời ấy. Luồng khí mạnh đến nỗi đẩy cả giàn khoan hàng chục tấn lên cao, y như ta ném một mớ lạt, trước khi ầm ầm sập xuống. Trong khi người dân quanh vùng tụ về chứng kiến chuyện lạ thấy thế sợ quá bỏ chạy tán loạn thì lòng ông lại cồn lên một niềm rạo rực. Nhưng cuối cùng dầu chẳng thấy đâu, chỉ thấy một mỏ nước khoáng, cũng còn may là được đánh giá có chất lượng sử dụng tốt. Thôi thì cũng là một niềm an ủi mặc dù nghĩ mà tự thương mình, thương anh em đồng nghiệp. Tuy thế các ông không được nản lòng, đúng hơn là không có quyền nản lòng. Nỗi buồn chưa kịp tan đi, các ông đã lại phải tiếp tục lao vào thăm dò những vùng đất mới. Vẫn cháy bỏng niềm hy vọng đất nước sớm có dầu để thoát nghèo. Ngày đó các ông làm việc trong điều kiện vô cùng cực khổ, bất chấp mọi logic. Giờ đây có những kỷ niệm mà khi kể lại ông vẫn hồi hộp như nó chỉ vừa mới xảy ra hôm qua. Ông vẫn không tin mọi việc lại có thể kết thúc giống như trong một giấc mơ. vậy. Đó là kỷ niệm về chuyến vận chuyển chiếc cẩu tải trọng 45 tấn để cẩu thiết bị giàn khoan từ cảng Hải Phòng về Xuân Thuỷ, Nam Hà thời bấy giờ. Khi công việc yêu cầu phải có loại cẩu như vậy, ông lập tức lên xin với thủ tướng lúc ấy là cụ Phạm Văn Đồng. Cụ Đồng cũng đang nóng ruột về chuyện dầu mỏ nên đáp ứng ngay tức khắc bằng cách điện sang Liên Xô trình bày yêu cầu với bạn. Cũng ngay lập tức bạn đồng ý. Chiếc cẩu khổng lồ thời bấy giờ lên tầu tại cảng Ô- đét- xa để sang Hải Phòng, tất cả mất ba tháng. Nhưng mọi chuyện chỉ đơn giản đến đoạn ấy: Bởi chẳng có phương tiện nào chở được một thiết bị nặng chừng ấy. Chẳng có chiếc cầu nào chịu được tải trọng tới 45 tấn. Cuối cùng người ta bèn đấu những chiếc ô tô lại để giải quyết bài toán cộng trừ ấy. Ông nhớ là khi qua cầu Bo, mọi người đều đùn đẩy nhau không ai dám liều. Ông phải yêu cầu chủ tịch tỉnh Thái Bình đứng trên cầu để khích lệ anh em. Ngày ấy có những hành động xem ra rất buồn cười nhưng lại mang một ý nghĩa vượt ra ngoài mọi khuôn khổ lý trí và đạo lý. Bởi vì lúc ấy không có nhiều thời gian và sự lựa chọn như bây giờ. Bản thân ông đôi khi cũng chỉ biết bám vào thứ lý lẽ đẩy cảm tính của trái tim. Rằng trái tim ông và các đồng nghiệp của ông đang hướng tất cả về thứ công việc không thể không làm. Mọi việc cuối cùng cũng thành công một cách đầy may rủi.

Nhưng đưa chiếc cẩu bằng đường bộ hoá ra vẫn không phải là việc làm khó nhất. Làm sao để chuyển chiếc cẩu xuống phà đưa qua sông Hồng mới là vấn đề kinh khủng. Mọi người đều nghĩ nát óc không tìm ra cách. Cuối cùng ông đề nghị đào một tà luy nghiêng theo sườn đê rồi dùng 10 cái máy kéo đấu lại kéo chiếc cẩu trượt theo bờ đê xuống phà. Việc kéo thì đơn giản nhưng phải tính toán sao cho chiếc cẩu trượt thẳng vào giữa bòng phà lại là cả một vấn đề. Nếu kéo mạnh quá, chiếc cẩu có thể phá tan chiếc phà trước khi tự nát vụn. Còn nếu kéo nhẹ quá, chiếc cẩu mới chỉ bám vào đầu phà thì chiếc phà đã đắm là cái chắc.

- Vậy cuối cùng các bác làm thế nào? Tôi không chịu nổi sự tò mò vội chen vào.

- Thực tình tôi cũng chẳng nhớ chúng tôi đã làm thế nào. Tính toán là vậy nhưng hình như thứ khác nó điều khiển mình chứ không phải cái đầu. Mọi việc cứ ăn khớp như mong muốn vậy.

- Nhưng nếu ngày ấy chiếc cẩu chìm nghỉm xuống sông Hồng, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra, thì liệu cuộc đời bác sẽ ra sao? Bác có tính trước như vậy không?

- Khi ấy mà hỏi thế thì còn làm được việc gì. Khi đó chỉ có một mệnh lệnh phải đưa được chiếc cẩu đến nơi cần nó. Không đưa được thì nhục. Người ta đã cho không, còn mất công chuyển đến tận Hải Phòng, chỉ còn việc đem về dùng mà cũng không xong thì sống làm gì Thế rồi mọi thứ khác cũng cứ răm rắp theo cái mệnh lệnh đó.

- Cả chuyện may rủi?

- Cũng chả nghĩ đến may rủi, thời gian đâu.

Có vẻ như ông hơi khó chịu trước vẻ ngạc nhiên của tôi. Nhưng làm sao tôi không ngạc nhiên cho được khi bản thân câu chuyện đã mang hơi hướng của một truyện thần kỳ.

Sau này, tôi được biết thêm, ông còn có công trong việc mở các lớp đào tạo cán bộ dầu khí - tức là nhằm đến cái lâu dài - mà Phân hiệu đại học Địa vật lý có nguồn gốc từ những lớp đào tạo ấy...

Chúng tôi đang nói chuyện thì một phụ nữ từ trong gian buồng bước ra. Từ đầu chị vẫn lúi húi làm gì đó, cũng là cách ý tứ để không làm phiền chúng tôi. Thấy tôi nhìn chị bằng vẻ dò hỏi, ông Thiệu giới thiệu:

- Nhà tôi đấy, chúng tôi mới cưới nhau năm 2000. Có lẽ mắt tôi tròn xoe như quả bi nên ông Thiệu nói tiếp:

- Bà là em gái một người bạn tù được trao trả năm 1973 theo thoả thuận trao đổi tù binh, do tôi đích thân ra đón rồi kết thân. Sau đó ảnh lộn lại chiến trường năm 1974 tiếp tục chiến đấu và cũng bặt âm vô tín luôn. Năm 1999, tức là sau 25 năm chúng tôi mới lại gặp nhau. Qua ảnh tôi và nhờ duyên phận xô đẩy đưa tôi đến với em gái ảnh.

Ông nói điều đó một cách khó khăn bởi nó khiến ông phải nhớ lại cả những chuyện đau lòng khác, những chuyện mà ông chỉ muốn giữ cho riêng mình. Sau khi miền Nam giải phóng ông lập tức trở về quê. Vợ ông khi đó đã có hai con với một sĩ quan trong quân đội Việt Nam cộng hoà. Con gái ông, cô con gái mà khi ông tập kết còn chưa đẻ, đã 20 tuổi, theo mẹ lên Tây Nguyên làm thuê. Ông được đề nghị nối lại tình cảm gia đình với người vợ cũ bởi chồng sau này của bà cũng đã xa chạy, cao bay. Mặc dù có thừa lòng thông cảm, có đủ tỉnh táo để nhận ra lẽ trớ trêu của thời cuộc nhưng không ai có thể bắt ông phải quên đi nỗi đau quá lớn với bất cứ con người nào. Không ai chia sẻ được nỗi đau đó của ông. Thế là ông quay ra Bắc cùng với đứa con gái lần đầu biết mặt, âm thầm nuôi nó ăn học, xây dựng gia đình cho nó còn ông thì tiếp tục sống một mình thêm 25 năm nữa. Điều đó có nghĩa là chiến tranh với riêng ông cứ tiếp tục kéo dài lê thê thêm đúng một phần tư thế kỷ. Tuy không có máu chảy đầu rơi nhưng nước mắt và nỗi đau thì thấm đẫm từng đêm mất ngủ của ông. Nhiều người bảo ông gàn dở. Cũng có thể họ đúng. Nhưng có một thứ mà chỉ ông đúng, đó là chỉ một mình ông biết phải sống như thế nào. Tôi có cảm giác thời gian chất lên vai ông một gánh nặng quá sức khiến nó như đang oằn xuống. Trái tim ông có thể đang nấc lên những tiếng rên rỉ mà chúng tôi đành chỉ biết đứng nhìn. Không nỡ làm khổ ông bởi những kỷ niệm đẫm nước mắt, tôi quay ra nói chuyện với vợ ông, chị Nguyễn Mai Phi. Quê chị ở Gò Công, Tiền Giang, xuất thân là cô giáo trong một gia đình nề nếp. Hẳn chị cũng đã từng có một thời con gái óng ả khi những nét đẹp vẫn chưa chịu tàn phai trên gương mặt ở tuổi ngoài năm mươi. Tôi không muốn trở thành kẻ thóc mách đời tư mà chỉ muốn hỏi chị, điều gì khiến một ông già đầy bệnh tật ở tuổi 73 hấp dẫn chị, cho chị sự can đảm để vượt qua tất cả mọi khoảng cách. Chị Phi cười, niềm hạnh phúc sáng lên trên cặp mắt, khoé miệng:

- Khi chị gặp ảnh, chỉ qua vài lần tiếp xúc đã biết ảnh thật trung thực, có cá tính và đấy là những phẩm chất của người có nhân cách. Bỗng dưng chị cảm thấy, nếu loại bỏ vấn đề tuổi tác thì hình ảnh người đàn ông mà chị tôn thờ hồi còn là thiếu nữ chính là ảnh. Đúng là hồi trẻ chị chẳng mong gì hơn có một tấm chồng với những nét tính cách như ảnh. Nó trùng khớp đến kỳ lạ em ạ. Thế là chị không quan tâm đến bất cứ việc gì khác ngoài hạnh phúc được sống với đúng thần tượng của mình. Suốt gần chục năm qua bọn chị đã sống với nhau như bất cứ cặp vợ chồng mới nào. Khi chị về ở nhà này ảnh chỉ có 47 ký, gầy trơ xương, còn bây giờ thì em trông đấy…Tôi hiểu là chị đang rất hạnh phúc. Đôi lúc tưởng như chị không thể kìm nén nổi cảm xúc. Trong khi vợ nói thì ông ngồi yên, không giấu được niềm hãnh diện. Thỉnh thoảng ông mới cắt ngang lời vợ bằng một câu vô cùng trìu mến:

- Em, xin em, hãy để yên cho anh kể tiếp.

Trong tiếng gọi tha thiết ấy của một người đã ở tuổi tám mươi, nếm trải đủ cay đắng của cuộc sống riêng tư có cái gì đó thật xúc động. Đúng là tâm trạng của người đang yêu và được yêu. Mọi tai ương, bất hạnh cuối cùng đều đã cúi đầu trước một con người dám sống và sống ngoan cường. Cầu mong cho những năm tháng nhọc nhằn của ông vĩnh viễn lùi lại.

Nghe chúng tôi kể về sự phát triển vượt bậc của ngành dầu khí và tương lai sáng sủa của nó, ông ngồi im bằng tất cả sự chăm chú. Rồi ông đứng dậy lục tìm lôi ra những tấm ảnh đen trắng đã nhuốm mầu thời gian. Chỉ cần nhìn vẻ hăm hở của những con người thời đó cũng đủ cho ta một sự trân trọng khi nghĩ về quá khứ. Xuyên qua thời gian, họ là thứ ngôn ngữ sinh động và sâu sắc còn vang mãi cho đến ngày hôm nay về lòng quả cảm và sự xả thân cho lý tưởng. Run run lần giở lại những kỷ niệm, thoáng chốc tôi nhận ra gương mặt ông cũng như bừng lên một thứ ánh sáng rất lạ. Nó chính là phản chiếu của ngọn lửa mà ông đem theo mình từ khi dấn thân cho sự nghiệp chung. Ông đã bền bỉ nuôi dưỡng nó bằng niềm tin, lòng nhiệt tình và bằng chính cả nỗi đau của mình, để giờ đây vẫn đủ sức nóng thắp cháy lên ở người khác tình yêu cuộc sống.

Vũng Tàu - Hà Nội

tháng 5 năm 2006, VP.